|
Nghe người bạn nói lại, tôi
quyết định đi đến Bến Tre vào một ngày tháng Chạp. Khi ấy, so đũa nở
hoa trắng xóa hai bên quốc lộ và chuyến phà chiều thật đông người.
Trên chiếc xe ca, tôi ngồi cạnh một bà buôn gà lắm điều và tôi cảm
thấy khó chịu v́ bên tai cứ văng
vẳng lời ca cẩm chế độ trong khi nơi cổ bà ta đeo thật nhiều ṿng
vàng.
Sẫm tối, tôi đến khách sạn đăng kư pḥng và sau đó
th́ lang thang qua những đường phố hẹp của tỉnh lỵ. Tôi thấy Bến Tre
có nhiều cô gái đẹp nhờ vào mái tóc dài và đôi mắt hiền.
Tôi không chắc sẽ gặp được nàng. Lúc chia tay th́
nàng đă 25 tuổi và vừa có chồng. Ba mươi năm trôi qua, bây giờ tôi đă
bước đến ngưỡng cửa 60 và nàng bằng tuổi tôi. Tôi c̣n nhớ lúc tiễn
nàng cùng chồng ra ga để đáp chuyến tàu tr ưa
về Nha Trang, bỏ lại tôi và cơn mưa mùa hè mù mù, ẩm lạnh.
Tôi ghé vào quán cà phê Huê
Liên và gọi cà phê sữa. Tôi đ ă
bỏ uống cà phê đen cách đây mười năm. Ở quán vắng người nên tôi thấy
dễ chịu.
Một người đàn ông đă già ở một xứ lạ, tôi bần thần
nh́n ra đường. Nơi đó nhạt nḥa ánh đèn và những ngôi nhà cửa đóng im
ỉm. Một đôi t́nh nhân trên chiếc Honda vụt qua. Tôi chỉ kịp nh́n vào
đôi chân thon của cô gái mặc mini jupe màu trắng ngồi phía sau.
Tôi nói với cô chủ quán rằng hăy mở nhạc mà trong
đó có câu “Mười năm cách biệt t́nh đành quên lăng”. Cô ta cười và phân
trần là nhạc như thế bị cấm. Tôi đành sống trong suy tưởng trên nền
nhạc rậm rịch của phương Tây. Phía bên bàn đối diện có hai gă ăn mặc
kiểu phụ nữ, độn ngực và hai gă có mái tóc kiểu bờm ngực đang cười
nói. Từ phía sông Bến Tre đưa về những luồng gió lạnh và thoang thoảng
mùi chợ.
*
* *
“Ông Kiên đó ư?”
Nàng hỏi khi gặp tôi. Lúc đó, nàng đang tưới hoa
vạn thọ trước sân. Tôi nh́n thấy phía xa là cánh đồng và những cánh
c̣. Tháng Chạp, buổi sáng ở đồng bằng trong trẻo với những đám mây
trắng bồng bềnh. Tôi cười nhưng ḷng đượm buồn khi nói rằng tôi đă đi
t́m nàng suốt quăng đời c̣n lại. Nàng trầm ngâm, đưa mắt nh́n con đ̣
ngang đang đưa khách phía ḍng sông.
Nàng mời tôi vào nhà. Tôi thấy nàng h ơi
gầy với đôi tay ốm và dài.
“Mấy cháu đâu?”.
Tôi hỏi điều đó khi thấy căn
nhà gỗ vắng lặng. Nàng buồn rầu, pha trà và nói rằng chẳng có đứa con
nào. Và nàng tiếc là ông nhà đ ă
đi Giồng Trôm chứ nếu không th́ để cho hai người ngồi uống rượu với
nhau. Tôi nói rằng tôi sẽ rời khỏi thị trấn này vào sáng ngày mai nên
cũng hy vọng gặp chồng nàng vào buổi chiều.
“Mới đó mà ba m ươi
năm!” - Nàng thở dài.
“Ờ, ba mươi năm!”.
Nàng ngồi thừ người và tôi
thấy xót xa khi nh ́n thấy
lớp da nhăn nhúm trên má nàng.
“Sao ông biết...?”.
“Biết chứ! Ngày đó Hương về Nha Trang?”.
“Rồi đi khắp cả: Huế, Buôn Ma Thuột, Tân An và cuối
cùng th́ đến đây”.
“Chạy lúc 75?”.
Nàng gật đầu. Tôi biết là nàng đă lén gạt những
giọt nước mắt. Nàng bảo tôi hăy cùng nàng đi dạo. Chúng tôi đi qua
những luống hoa hồng, cúc vàng và cẩm ch ướng.
Nàng nói vợ chồng nàng sống bằng nghề trồng hoa. Tôi nghe phảng phất
trong gió có mùi hoa bưởi xen lẫn với mùi cỏ dại.
Nàng bước những bước ngắn và
nhẹ nên tôi thấy h ́nh như
bên cạnh tôi đó chính là cô gái tên Hương ngày nào. Lúc trẻ, khi nh́n
vào những bà già tôi thấy xấu ghê gớm nhưng bây giờ tôi lại thấy nàng
đẹp. Hóa ra, việc xấu đẹp là do cách nh́n của mỗi độ tuổi con người.
Chúng tôi đi vào vườn, dẫm qua những tàu lá dừa khô
và ngồi xuống băi cỏ cạnh đ́a, nơi đó nở đầy bông súng tím. Tiếng b́m
bịp kêu nước lớn, thật buồn. Tôi kể cho nàng nghe về những năm tháng
qua và đoạn đường tôi lưu lạc. Và khi ở R, tôi đă gặp cô gái văn công
người B́nh Dương để sau này thành vợ tôi. Nàng hỏi rằng vợ con tôi
hiện giờ sống ở đâu. Tôi đáp là ở ngoại ô Sài G̣n và vào mùa này
thường có những đàn c̣ di c ư
trở về.
Tôi không hỏi nàng một điều g ́
về cuộc đời của nàng v́ khi nh́n dáng nàng tôi cũng đoán biết được
phần nào. Sự khổ tâm thường hiện rơ trên đôi mắt hơn là hiện trên thân
thể.
“Ông thật hạnh phúc!” - Nàng nói.
“Hạnh phúc?”.
Và tôi nói thêm là nàng đừng buộc tôi trả lời câu
ấy; một câu rất b́nh thường nhưng cay nghiệt, cay nghiệt cho tôi và cả
cho nàng. Tôi thấy một con ong đang vo ve trên nụ hoa bưởi và tôi cũng
không quên liếc nh́n tay nàng giờ chằng chịt những mạch máu.
“Trước ngày cưới của tôi, ông đến nhà ông ấy làm
ǵ?”.
“Gă không kể lại?”.
“Có, nh ưng
muốn nghe chính miệng ông nói”.
“Anh thèm gừng!”.
“Tôi không hiểu?”.
“Hôm đó anh có uống rượu. Dân
gian nói gừng gi ă rượu.
Anh biết nhà chồng Hương có nhiều gừng”.
Nàng cười, nụ cười thời con
gái trên gương mặt người đàn bà ở độ tuổi xế chiều. Tôi đoán là nàng
hiểu tôi nói đùa. Một câu nói đùa khi không có câu đùa đáp lại thường
rơi vào sự lố bịch. Tôi nghĩ như thế nên im lặng.
“Ngày tôi ra đi, ông nghĩ g ́
về tôi?” - Nàng nh́n tôi, buồn bă.
Nàng muốn nhắc đến ngày cưới của nàng, tôi không
trả lời mà chỉ nh́n ánh mặt trời nhảy nhót trên mặt sông tr ước
mặt. Một lát sau tôi mới nói rằng đêm ấy tôi cười rất nhiều, cười để
giấu sự nuối tiếc.
“Lúc cần có ông bên cạnh, ông
lại bỏ đi” - Nàng thở dài.
“Anh nghĩ là Hương không yêu
anh” - Tim tôi lại lên cơn đau.
“V ́
sao?”.
“H ương
quá lạnh lùng!”.
Tôi đáp mà không nh ́n
nàng nhưng tôi biết là nàng nh́n tôi.
“Cũng như ông, ông lấy nụ cười để giấu nỗi buồn.
C̣n tôi, tôi dùng mặt lạnh để giấu sự mặc cảm”.
Tiếng con chim khách kêu từ phía vườn xa và tôi
thấy chạnh ḷng trước cảnh một gă ngồi câu cá cô độc trên chiếc xuồng
nhỏ.
Chúng tôi đi qua vườn dừa, đến cánh đồng và không
ai nói với ai một lời nào nữa. Tôi đốt một điếu Casio v́ bác sĩ bảo
dạo này tôi mắc chứng viêm họng nặng. Tôi thấy nàng đi khập khiễng nên
tôi biết là nàng bị bệnh phong thấp. Mái tóc dài của nàng ngày trước
bây giờ chỉ c̣n là một búi tóc tṛn sau gáy, lốm đốm bạc.
“Bước đường đi của người ta, ḿnh vẫn dơi theo mà
người ta không biết. Th́ thôi!” - Nàng nói bâng qu ơ.
“Hương rụng mấy cái răng rồi?”
- Bất chợt, tôi thốt lên câu mà hồi niên thiếu tôi thường chọc ghẹo
nàng.
“Ba. C ̣n
ông?”.
“Bảy. Người thất t́nh hay rụng răng sớm”.
“Cũng cái giọng ấy”.
“Anh sẽ bỏ khi không c̣n nhớ H ương”.
“Khi nào không nhớ?”.
“Chết!”.
Tôi nh ́n
đồng hồ và thấy đă 12 giờ. Tôi cũng không hiểu v́ sao đến giờ này tôi
không cảm thấy đói. Lúc ấy chúng tôi đang đi dọc triền sông. Tôi đọc
cho nàng nghe bài “Tiếng thu” của Lưu Trọng Lư mà thời đó tôi đă chép
vào sổ tay của nàng. Nàng khóc. Tôi sợ những giọt nước mắt của người
già nhưng tôi lại thích nh́n nước
mắt nàng rơi. Giọt nước mắt nàng dù ở tuổi 55 nhưng đối với tôi nó vẫn
như ở tuổi 20.
Nàng đưa cho tôi một bông hồng
đ ă héo rũ và bảo tôi hăy
làm thơ về thân phận của nó. Tôi nói rằng tôi đă bỏ làm thơ
từ khi mất nàng. Tôi choàng tay qua vai nàng nhưng nàng đẩy ra và nói
bây giờ là ban ngày. Tôi cảm thấy mỏi nhừ hai đầu gối và bắp chân nên
chúng tôi ngồi lại nghỉ dưới gốc cây me già. Nàng bóp chân cho tôi.
Tôi cảm nhận được bàn tay nàng khác bàn tay vợ tôi dù cả hai đều là
bàn tay phụ nữ.
“M ́nh
về!” - Nàng mở lời.
Tôi thở dài và nh́n nhụy bần rơi trắng băi sông.
“Gặp nhau chỉ vậy thôi sao?”.
“Già rồi”.
“T́nh đầu dù ở khoảng thời gian nào vẫn là t́nh
đầu”.
“Ông muốn tôi sống hạnh phúc chứ?”.
“Không!”.
Nàng ngạc nhiên nh́n tôi. Tôi giải thích là hai
người yêu nhau thật ḷng và người nào bước sang ngang th́ người c̣n
lại chỉ ước mong sao người
kia phải sống khổ sở để mà ân hận, nuối tiếc người cũ.
“Ông là người ích kỷ và có cái
tật nói ngang không hiểu nỗi”.
“Ai bị mất t ́nh
yêu cũng đều tỏ ra cao thượng trước mắt mọi người nhưng thật sự đó chỉ
là sự cao thượng bên
ngoài”.
“Dù cao thượng vẫn hay hơn?”.
“Lúc trẻ anh không dám nói.
Bây giờ đ ă già và anh mạnh
dạn nói rằng mọi người con
gái đều lầm ở cái khoản đó”.
Nàng đứng lên và đi về phía
vườn hoa nhà nàng. Tôi đi theo dấu chân nàng in trên đất giồng có màu
sẫm và hát nho nhỏ bài dân ca Nga có giai điệu buồn. Gió chướng vu vơ
trong buổi chiều muộn.
Tôi gặp chồng nàng khi chúng
tôi về đến nhà. G ă đang
ngồi lặng lẽ vót những nan tre. Gă gật đầu chào tôi và tôi cũng biết
rằng gă đă nhận ra tôi của 30 năm về trước qua ánh mắt thoáng sững sờ.
Tóc và râu của gă đă bạc không khác ǵ tôi. Tôi im lặng đốt một điếu
thuốc. Khi ấy, tôi nghe có tiếng chim non đói mồi kêu trên cây trâm
bầu. Từ phía thị trấn văng vẳng lời rao của đội chiếu Vidéo.
Nàng đến bên gă và bảo hăy t́m chút ǵ để đăi
khách. Tôi không khách sáo v́ tôi bắt đầu thấy đói. Mắt tôi dù mờ
nhưng cũng phụ bắt được một con gà ṇi đang chạy rong chưa chịu vào
chuồng.
Ở buổi tiệc nhỏ ấy, tôi và gă không ai nói tới ai.
Nàng ngồi bên, lặng im rót rượu. Đêm châu thổ sông Tiền tôi nghe có
tiếng lá dừa xào xạc và nh́n thấy ánh lân tinh đom đóm lập ḷe nơi
rặng bần ven sông. Gă uống rồi lặng lẽ trao sang tôi. Sau đó, gă âm
thầm đốt những điếu thuốc được cuốn bằng những sợi Xuân Lộc màu vàng.
Khi hết nửa lít tôi bảo rằng nàng hăy cho thêm một
xị nữa. Từ lâu, uống rượu vào là tôi bị mất ngủ trừ phi phải uống thật
nhiều. Tôi bỗng nhớ tới vợ tôi, ba đứa con và ba đứa cháu ở Sài G̣n
giờ này chắc không biết tôi ở n ơi
đâu. Tôi cảm thấy thương vợ tôi.
Nàng trở về và đưa cho g ă
chai rượu. Gă rót rượu, c̣n nàng th́ gắp thức ăn cho tôi. Tôi hiểu nỗi
hiu quạnh của đôi vợ chồng già không con nên lúc này nỗi căm thù gă đă
chiếm mất người yêu của tôi h́nh như tan biến. Tôi mang máng nhận ra
giờ đây tôi thấy thương mến cả hai người. Ở phía bờ sông có giọng đàn
ông gọi đ̣ trầm trầm và tiếng con vạc sành kêu đêm róc rách như
tiếng mưa rơi trên mái nhà.
“Buồn, ông bạn” - G ă
chợt nói.
“Ờ, buồn!”.
Nàng mím môi và nh́n ra cửa sổ. Ở đó, trăng thượng
tuần hắt xuống khoảng sân ánh sáng nhàn nhạt.
*
* *
Có phải nàng ở đó không? Tôi tưởng tượng ra lúc tôi
và nàng gặp nhau. Tôi trả tiền cà phê và đốt một điếu Mélia. Tôi trở
lại khách sạn trong đêm khuya của tỉnh lỵ cuối năm và nhận biết trời
càng lúc càng lạnh.
Biết chắc phải nàng ở đấy không? Tôi nhớ tới địa
chỉ nàng do người bạn trao cho. Nơi ấy, là một thị trấn đ́u hiu nằm
bên ḍng sông và ngày ngày có chuyến đ̣ ngang đưa khách.
Tường Đa, 1990
(trích trong tập
truyện "Tiếng chuông trôi trên sông" của Vũ Hồng - Tặng thưởng Văn học
của Hội nhà văn Việt Nam năm 1999) |