|
Cô chủ quán có bộ ngực nhỏ
bưng ly cà phê và gói thuốc Mai đặt trước mặt ông lão.
“Cám
ơn!”
“Cần thêm g ì
cứ gọi nhé, “bố””.
“Ờ”.
Tiếng “ờ” toát ra từ miệng ông lão nhẹ như hơi gió
thoảng. Ông lão ngồi nghiêng người, gương mặt nửa tối, nửa sáng, làm
nổi lên những vùng hõm sâu, khắc khổ.
Dòng sông Tiên Thủy vào những ngày mưa tháng mười
đục ngầu phù sa. Xa xa, những mảng lục bình trôi, vô định. Ông lão dõi
mắt nhìn theo, vẻ đượm buồn.
Cô gái nhìn trời và nói vu v ơ:
“May quá, chiều nay không có
mưa...”.
“Ờ, không có mưa”.
Ông l ão
lặp lại lời cô gái như một cái máy. Chậm rãi, ông nhích cái bàn sang
một bên và co chân lại, ngồi thu lu trên chiếc ghế mây đã đen bóng lên
theo thời gian. Hai mươi sáu năm, biết bao buổi chiều trôi qua, ông
lão vẫn ngồi bất di bất dịch ở chỗ ấy, chỉ trừ những ngày Tết nhứt,
giỗ chạp, quán phải đóng cửa. Bốn giờ chiều, ông đến. Chủ quán không
hỏi, tự động mang đến cho ông gói thuốc đen và ly cà phê không đường.
Năm giờ, ông lang thang dọc triền sông giống như một du khách nhàn tản
đang say sưa ngắm cảnh đồng quê. Bảy giờ, ông xuống đò sang cù lao, về
với căn chòi lợp lá đã cũ nát của mình. Điều đó hầu như đã thành qui
luật của riêng ông, mặc cho ngày ấy là một ngày nắng đẹp trời hay mưa
dông tầm tã cũng thế. Người dân ở cái thị trấn đồng bằng này chưa bao
giờ thấy ông bị bệnh tật, ốm đau, bởi lẽ ông như một cái đồng hồ biết
đi của họ. Thấy ông lững thững bước vào quán, những ông chồng vội vã
gọi các bà vợ đang ngồi tán dóc nơi góc phố về để chuẩn bị bữa cơm
chiều.
Thoạt đầu, những người dân trong vùng cho là ông bị
“chập” hay bị căn bệnh trầm uất nào đó chẳng hạn. Họ xầm xì, bàn tán,
ông nghe và chỉ cười. Riết rồi tất cả đâu lại vào đấy như cái bình
lặng vốn có của một thị trấn đìu hiu từ tr ước
đến nay.
Đốt một điều thuốc, ông l ão
im lặng lắng nghe tiếng sóng vỗ oàm oạp vào bờ, cùng tiếng la ơi ới
gọi đò từ bờ bên kia. Làn khói bay ra từ miệng ông lượn
lờ một chút trong không trung rồi trong phút chốc, một cơn gió liu riu
qua xé nó tan ra thành từng mảnh vụn.
“Tối nay trăng sẽ sáng lắm
đây” - Cô gái chống tay lên lan can bằng gỗ - “Chiều nay “bố” trông có
vẻ buồn hơn mọi ngày?”.
Ông l ão
không đáp, chỉ nở nụ cười hiền hậu. Thấy ông có sắc vui, cô gái líu lo
kể đủ thứ chuyện, từ chuyện thời trang đến chuyện mùa màng, thời tiết.
Cho đến tận bây giờ, ông mới phát hiện ra rằng: càng lớn lên, cô gái
này càng giống nàng quá đỗi, nhất là đôi mắt có quầng đen, sâu thẳm
như đôi mắt của một vũ nữ Ấn Độ.
“”Bố” kể chuyện của “bố” cho con nghe với” - Cô gái
nài nỉ.
“Chuyện gì đâu?”.
“Chuyện ở R. Con nghe mấy chú nói hồi đó ở trong
rừng vui lắm, phải không?”.
“Thì cũng mấy chuyện “bố” đã kể cho con”.
“Nhưng hình như “bố” còn giấu con một chuyện gì
đó...”.
Ông lão im lặng, lảng tránh ánh mắt của cô gái. Câu
nói vô tình ấy đã khơi gợi lại vết thương lòng mà ông muốn giấu kín,
giấu kín ngay cả chính bản thân ông. Ông sợ đem lương tâm mình ra đối
diện với sự thật, bởi lẽ lúc nào ông cũng là một anh hùng trong chiến
tranh trước đôi mắt bạn bè. Vậy mà, người anh hùng ấy đã có vài giây
phút nhu nh ược, yếu hèn. Sự
nhu nhược, yếu hèn để lại một khoảng trống lạnh lẽo đời đời trong tâm
hồn ông.
Trong tiếng gió lùa qua hàng
dừa phía cù lao Khánh Hội, h ình
ảnh nàng của ngày xưa như hiện về, huyễn hoặc trước mắt ông. Nàng nằm
đó, trên bãi cỏ, mái tóc dài phủ lên chân ông mềm như
ngọn gió.
*
* *
...”Để anh cài cho tóc em. Tóc
em cài hoa rất hợp” - Nam cúi xuống hôn phớt qua má nàng - “Khi nào
hết chiến tranh anh sẽ về sống ở quê em”.
“Em nghi quá!” - Nàng chống
tay ngồi dậy - “Coi chừng rối tóc em. Đó, anh cuộn như vậy mới thành
bím chứ cột như lúc n ãy
tóc em sẽ giống như cây chổi mất. Anh nói về quê em à? Giờ có người ta
trước mặt thì nói vậy, chứ sau này lỡ đóng quân ở chỗ khác thì anh lại
quên em ngay. Đi theo em, anh bỏ mấy cô xứ biển cho ai?”.
“Cho sóng và cát” - Anh âu yếm ôm nàng vào lòng -
“Tụi mình sẽ cưới nhau. Anh và em cũng không cần gì cả. Chuyện chiến
tranh, chết chóc rồi sẽ đi vào dĩ vãng. Tụi mình sẽ dựng một căn chòi
bên dòng Tiên Thủy quê em, ngày ngày đưa đón khách sang ngang”.
Nàng ngước mắt nhìn anh, cái nhìn thật dài:
“Ng ười
ta có gật đầu đâu mà nói chắc như vậy?”.
“Sao không chắc. Chính em đ ã
theo tán tỉnh anh trước kia
mà” - Anh nheo mắt, tinh nghịch - “Thân con trai mười hai bến nước,
trong nhờ đục chịu...”.
“Xạo đi. Có nhiều người ve v ãn
em rồi đó, đừng có khi dễ nghe” - Nàng nhẹ nhàng hất bím tóc qua một
bên vai và cười nụ sau câu
nói lấp lửng - “Hồi tuần rồi, chú Ba hỏi em có thích chuyển về văn
công của Khu không nhưng em chưa trả lời. Nghe nói mấy anh bộ đội ở
Khu đẹp trai hơn ở đây nhiều”.
“Đẹp trai, cho em đẹp trai nè”
- Anh dứ dứ những ngón tay vào gáy nàng khiến nàng phải né người sang
một bên v ì nhột. Rồi họ
cười đùa, rượt đuổi nhau vòng vèo trên bãi cỏ và những hõm cây duối
dại. Tiếng cười của họ ngân vang trên mặt sông, mặt sông đang ngã bóng
hoàng hôn.
Nàng ôm ngực, thở dốc, g ương
mặt đỏ như gấc. Nàng tựa đầu vào vai anh, thủ thỉ:
“Nói vậy chứ em đ ã
nguyện suốt đời là cô giao liên của anh, Nam à!”.
“Giọng hát của em mà bỏ phí đi thì cũng uổng”.
“Anh muốn em theo văn công thật sao? Vậy đó, nói
yêu th ương người ta cho lắm
mà chỉ thích đẩy người ta đi cho thật xa. Hèn chi, con Oanh mỗi lần
gặp em đều hỏi đủ thứ chuyện về anh”.
“Th ì
anh nói cho có vẻ cao giá chơi
chứ chẳng có Oanh hay Hồng nào cả. Anh tính vầy em xem có được không.
Mỗi tối em cứ sang chỗ anh, em hát, anh vỗ tay, là xong”.
“Đầu óc anh lúc nào cũng mơ
tưởng bậy bạ” - Nàng giả vờ co rúm người lại, sợ h ãi,
trong khi ánh mắt lại phát ra những tia cười,
long lanh.
Nam bật thốt sau giây phút
lặng im:
“Kỳ quá ta!”.
Nàng giật m ình,
ngơ ngác, ngước mắt nhìn anh với vẻ dò hỏi:
“Sao?”.
“Ông Tơ bà Nguyệt xe duyên thế nào để cho hai đứa
mình gặp nhau hoài cũng lạ thật. Chắc kiếp tr ước
anh mắc nợ em”.
“Mắc nợ cái g ì?’.
“Anh còn nhớ kiếp tr ước
em làm chồng, anh làm vợ. Mỗi lần em đi uống rượu về đều quậy anh muốn
đứt hơi. Kiếp này anh phải trả đũa lại”.
Nam bật cười khanh khách sau
câu nói của m ình. Nàng
liền xô anh ngã trên cỏ và tát yêu vào má anh:
“Cái miệng ăn nói thấy ghê!”.
Một thoáng đất trời chợt như chững lại. Trong
khoảnh khắc, mặt họ như gần sát vào nhau. Người con trai cảm thấy
những mạch máu căng trào, muốn vỡ tung ra khi anh thoảng nghe đâu đó
có làn gió đang mơn man, phảng phất một mùi hương cỏ dại, trinh nguyên
mà từ lúc trưởng thành đến giờ anh chưa được nếm qua. Mùi hương ấy như
dìu anh vào miền cổ tích nào đó, có cánh đồng lúa vàng, có bầu trời
mênh mông cùng những đám mây mịn màng như dải lụa. Rồi từ trong đám
mây, một người con gái bước ra, rạng rỡ như một vị nữ thần, tinh khiết
như giọt sương của buổi ban mai, và rót vào đời anh từng dòng mật
ngọt.
“Ui da!” - Nàng chợt kêu lên - “Gãy móng tay em
rồi”.
Nam cười, vẻ ngượng nghịu vì sự vụng về của mình.
Nàng nói với giọng hờn dỗi:
“Em không ch ơi
với anh nữa. Ai bảo đi bẻ móng tay người ta. Công người để cả mấy
tháng trời mới được bấy nhiêu đó”.
Nam nh ìn
xuống đất. Cái móng tay nhỏ nhoi bị gãy giờ trông giống như vầng trăng
khuyết nằm đó, lạc loài giữa một nhụy hoa dại. Trong ý nghĩ vô thức,
anh nhặt nó lên và bỏ vào túi áo.
*
* *
“”Bố” bệnh à?” - Cô gái đột ngột cắt ngang dòng suy
tưởng của ông lão - “Mặt “bố” đỏ bừng lên giống người bị sốt cao. Để
con chạy sang hiệu thuốc tìm cho “bố” vài viên Paramol”.
“”Bố” thì trâu vật cũng không chết. Thôi khỏi!” -
Ông lão khoát tay - “Cha mẹ con đi đâu hết rồi?”.
“Cha mẹ con đi chợ thị xã mua vài thứ về để ngày
mai làm đám giỗ cô Hai. Phải chi có cha con ở nhà cùng đánh với “bố”
vài ván cờ tướng cho vui. Sáng mai “bố” sang dự đám giỗ nghe, con mời.
“Bố” thật kỳ. Mời hoài mà chẳng năm nào có mặt “bố”. Lần này “bố”
không đến thì con sẽ nghỉ nói chuyện với “bố” luôn”.
“Mình có xứng đáng với tình yêu của nàng đâu” - Ông
lão nghĩ thầm và cảm thấy cay cay n ơi
khóe mắt.
Cô gái vẫn nói say sưa với vẻ
hồn nhiên:
“Nghĩ mà thương cô Hai, mất
rồi mà không c òn được cái
gì làm kỷ niệm để lên bàn thờ. Con nghe người dân quanh đây nói, hồi
con gái cô con đẹp nhất vùng này. Tay quận trưởng theo ve vãn hoài,
thậm chí cả hăm dọa mà cô con cũng nhất quyết không chịu. Bực mình, cô
con nhảy vào vùng giải phóng làm giao liên. Ai cũng cho là con giống
cô Hai. “Bố” biết không, cô con hy sinh anh dũng lắm. Hy sinh để cứu
đồng đội. Mà cái người được cô con cứu ấy thật tệ. Giải phóng lâu rồi
vậy mà không thèm tìm về đây, thậm chí chỉ để thắp một nén nhang”.
“Nhiều khi người ấy cũng không còn nữa trên cõi đời
này” - Ông lão lẩm bẩm.
“À, chắc là vậy” - Cô gái nhìn ông lão tỏ vẻ ngạc
nhiên - “”Bố” khóc à, “bố”? Con xin lỗi, “bố” đang buồn mà con cứ kể
những chuyện gì đâu đâu ấy!”.
Có vài đứa trẻ đến hỏi mua kẹo, cô gái bỏ dở câu
chuyện, xoay mình b ước đi.
“Đám giỗ của nàng ư? Làm sao
mà ta c òn mặt mũi nào để
đến với nàng được nữa?” - Ông lão cay đắng nghĩ - “Làm sao ta có thể
quên được cái ngày khủng khiếp đó của năm 62. Cái ngày đã đeo bám theo
nỗi cô độc của ta hơn ba mươi năm qua. Nó đã hành hạ, dằn vặt lương
tâm ta đến mòn mỏi”.
*
* *
... Trong căn hầm tối tăm, ngột ngạt, nàng nói với
giọng nài nỉ:
“Để em lên, Nam. Em không chịu nổi nữa!”.
“Không được” - Nam rít qua kẽ răng - “Em định trở
thành kẻ đầu hàng để nhơ danh suốt đời sao?”.
“Em chỉ giả hàng thôi. Bắt được em chắc chúng sẽ
không còn bao vây v ườn dừa
này nữa. Chừng ấy anh có thể thoát về được bên kia sông”.
“Chúng sẽ giết em mất” - Nam
vuốt ve đôi má nàng để chuộc lại cơn nóng giận vô cớ vừa rồi - “Em h ãy
nhắm mắt lại, ngủ đi và mơ một giấc mơ đẹp. Không có gì nhục nhã cho
bằng sự đầu hàng, em hiểu không? Lỗi ở anh. Lẽ ra bữa đó anh đừng rủ
em sang bên này sông”.
Nàng bật khóc tấm tức. Căn hầm bí mật kiểu cá nhân
không đủ sức chứa hai người nên giờ đây họ giống như con cá bị ép
trong hộp, không xoay trở gì được. Nó gây ra sự ngứa ngáy, khó chịu.
Nàng chợt áp tai vào vách hầm và nói nh ư
mê sảng:
“Anh có nghe thấy g ì
kia không, Nam? Tiếng sóng. Sông đang gọi tụi mình quay về đó” - Lời
nàng như chìm vào một cõi xa xăm - “Xa con sông một ngày em như không
còn là em nữa. Hồi nhỏ, em bị má rầy hoài. Má nói con gái gì mà như
con trai, tối ngày lặn hụp dưới sông, lớn lên đen mốc, đen mò ai mà
thèm lấy. Em chỉ cười và đáp: Con chẳng chịu có chồng đâu. Con sẽ ở
vậy với má. Miệng má cười nhưng mắt má khóc. Tội nghiệp, ba mất sớm
làm má cực. Lúc ba mất, em mới lên năm, còn thằng Út Phi thì vừa giáp
tháng. Hồi xưa, ba em theo bộ đội ông Cống. Đã hai ngày một đêm rồi ở
dưới hầm, không tắm táp gì được, giờ chắc em hôi hám và xấu xí lắm
phải không?”.
Câu hỏi của nàng khiến cổ họng Nam như nghẹn lại.
Nước mắt anh trào ra. Anh cảm thấy mình trở nên nhu nhược, yếu hèn vì
đã không bảo vệ được người mình yêu.
Anh ôm nàng vào lòng, âu yếm:
“Suốt đời anh chỉ có một mình em thôi. Hồn anh em
đã nắm giữ kể từ buổi đầu sang sông ấy”.
“Em cũng vậy. Lúc chú Ba nói đùa: “Tao gả thằng Nam
cho mầy, chịu không? Sẵn dịp dạy cho nó chèo đò luôn thể?”. Em thấy
anh đỏ bừng mặt vì mắc cỡ mà em phát thương. Con trai gì nhút nhát còn
hơn con gái. Đến hồi anh dám đứng sổng người bắn giải vây cho em bơi
được sang sông thì em mới th ương
anh thật sự”.
“May mà anh bắn không trúng
nhầm vào em chứ lúc đó mắt anh nhắm tít lại, đâu c òn
thấy gì nữa” - Nam đùa.
Nàng phì c ười.
Nam vuốt ve làn tóc mai bết dính mồ hôi của nàng:
“Thanh nè!”.
“Chi anh?”.
“Tháng sau chú Ba đi họp ở B ình
Đại, anh xin cho em đi cùng nghe. Em chưa
biết biển là thế nào, phải không?”.
“Chưa”.
Có tiếng nện th ình
thịch trên mặt đất. Hai người vội nín lặng. Họ nghe rõ cả những chiếc
lá khô bị gió cuốn qua và tiếng bàn chân ai dẫm đạp. Vài phút sau,
tiếng chân bước xa dần về phía bìa vườn
kèm theo những tiếng chửi thề.
Nàng chợt níu lấy áo anh:
“Anh rút cái chân ra để em
ngồi bệt xuống đất cũng được. Kiểu này chúng c òn
bao vây lâu đây”.
“Đừng, em đang bệnh. Mặt đất sền sệt nước thế
kia!”.
“Bụng em không còn đau nữa”.
Im lặng. Một phút sau, có tiếng của Nam:
“Bàn tay em đâu rồi?”.
“Chi vậy anh?”.
“Đưa đây anh lau cho, để ẩm ướt lâu ngày mấy cái
móng sẽ hư hết” - Nam áp tay nàng vào bờ môi mình - “Em có đôi bàn tay
đẹp nhất trần đời”.
*
* *
“Tay của con mà” - Cô gái đặt bình trà nóng xuống
bàn và mỉm c ười độ lượng -
“Mắt yếu vậy sao “bố” không đeo kính? Để con rót nước cho kẻo “bố” bị
phỏng mất”.
Ông l ão
hơi ngượng ngùng vì sự nhầm lẫn vừa rồi:
“Xin lỗi! Tay của con mà “bố” cứ t ưởng...”.
“A, “bố” có nhí nào rồi phải
không? Vậy mà dám giấu con”.
Ông l ão
cười xòa:
“Cái con bé này lém lỉnh không ai bằng”.
Cô gái nghiêng đầu, rũ mái tóc dài sang một bên,
nhí nhảnh:
“”Bố” có vợ con sẽ tặng “bố” một món quà đặc biệt”.
“Gì nào?”.
Cô gái đưa ngón tay lên miệng ra dấu bí mật rồi
chạy vào buồng.
“Hiện thân của nàng đó ư?” - Ông lão thở dài, mắt
lơ đãng nhìn đàn cò trắng bay qua - “Vậy mà nàng đã không còn gì nữa
cả. Chiến tranh! Chiến tranh đã cướp mất tình yêu của ta” - Ông lão
chống hai tay lên cằm, nghĩ ngợi.
*
* *
... Một cảm giác bồng bềnh, bay bổng giữa không
gian khiến người Nam chao đi và anh nghe một tiếng nổ đâu đó từ xa
vẳng lại, giống như tiếng sấm rền. Anh choàng tỉnh dậy. Ngực anh như
bị ai đó đấm vào đến nghẹt thở. Anh bật ho khan vài tiếng và cố há
miệng thật to để tìm chút không khí.
Giơ tay sờ soạng xung quanh, anh giật điếng người
khi nàng không còn ở đấy nữa. Nàng đã bỏ anh mà đi, đi trong lúc anh
chìm vào giấc ngủ say. Theo bản năng, anh đưa tay lần xuống thắt lưng
nhưng quả lựu đạn duy nhất cũng không cánh mà bay. Rồi anh chợt hiểu
ra tất cả sau mấy phút định thần. Tiếng nổ? Tiếng nổ mà anh nghe được
trong giấc mơ.
Anh vội chồm dậy nhưng lại ngã khụyu xuống vì đôi
chân tê cóng.
Cố nén cơn đau của hàng ngàn mũi kim đâm vào da
thịt, anh vươn hết tầm tay và nhích nắp hầm sang một bên. Luồng không
khí từ bên ngoài ùa vào khiến những mạch máu ngỡ như đã ngủ yên chợt
thức giấc trong anh. Từ phía đâu đó theo làn gió thoảng, anh nghe có
mùi cháy đến khét lẹt, mùi máu mằn mặn...
“Thanh
ơi!”.
Nam kêu lên, thảng thốt. Cố t ì
khủyu tay vào thanh cây chắn ngang miệng hầm, anh nhoài người lên mặt
đất từng tí, từng tí một. Dưới ánh trăng soi tỏ như ban ngày, cảnh vật
phơi bày trước mặt anh, trông thật hãi hùng.
“Thanh
ơi! Em đang ở đâu?”.
Nam ôm mặt. Đôi vai anh rung
lên từng hồi. Vừa mới đây thôi, nàng vẫn c òn
hiện hữu bên anh vậy mà tất cả đã trở thành sương
khói.
Theo một quán tính gần như là
vô thức, Nam thất thểu đi qua những mảnh thịt c òn
vương vãi để đến bãi cỏ ven sông. Anh nghe như tiếng nàng đang hát thủ
thỉ bên tai anh hòa với tiếng sóng vỗ bờ róc rách.
*
* *
“Con tặng “bố”” - Cô gái trở lại bên ông lão tự khi
nào. Trên tay cô ta là chiếc l ược
đồi mồi - “Con mới đi Vũng Tàu hồi mùa hè”.
Ông l ão
cầm chiếc lược lên ngắm
nghía và khen:
“Con có óc thẩm mỹ lắm. Tóc
con dài th ì con nên giữ
nó. Nói giỡn chơi chứ “bố”
không dám nhận đâu”.
Cô gái phụng phịu, hờn dỗi. Cô
ta nhét đại cái lược vào túi áo của ông:
“”Bố” từ chối, con giận, con
sẽ không pha cà phê ngon cho “bố” uống nữa”.
“Mai “bố” từ gi ã
chỗ này rồi”.
“”Bố” đi đâu?”.
“Về quê cũ của “bố”” - Ông lão đáp, giọng buồn rầu
- “Già rồi, “bố” muốn được nằm cạnh ông bà”.
“”Bố” lúc nào cũng buồn và bi quan. Quê “bố” ở
đâu?”.
“Biển”.
“Xa quá! Hay “bố” ở lại đây đi nếu “bố” thấy ở một
mình bên cù lao buồn. Để con nói với cha mẹ cho. “Bố” phụ lau bàn và
rửa ly tách cũng được vậy”.
Ông lão bật c ười
trước lời đề nghị hồn nhiên của cô gái.
Có tiếng Honda đỗ xịch nơi
cửa. Cô gái quay ra, nét mặt rạng rỡ hẳn lên. Cô nói nhỏ vào tai ông l ão:
“Nhí của con đến. Tụi con đi đây chừng ba mươi
phút, “bố” trông chừng dùm quán nhé. Lỡ cha mẹ con có về thì “bố” cứ
nói con đi gọi điện thoại cho dì Út ở Sài Gòn. Hôm nay con không tính
tiền cà phê của “bố” đâu”.
“Cái con này. Ờ, nhưng trò chuyện với người yêu thì
vài m ươi phút sao đủ?”.
“Thời đại bây giờ nói nhiều
chi cho mệt hơi, “bố”!”.
Cô gái nói xong và phóng nhanh
ra cửa như một con sóc.
Nh ìn
đôi trai gái đang cười đùa tình tứ mà lòng ông chợt man mác. Lũ trẻ
ngày nay hạnh phúc quá. Ông chợt thấy xót xa như có ai đem muối xát
vào vết thương đã bị sưng tấy lên. Giá như không có chiến tranh. Giá
như nàng vẫn còn hiện hữu bằng xương bằng thịt bên ông. Đêm đêm, nằm
một mình trong căn chòi lạnh lẽo, ông lắng nghe tiếng kẽo kẹt của con
đò mà ngỡ như nàng đang thủ
thỉ bên tai.
Buồn rầu, ông bước đến bàn thờ
giữa nhà thắp một nén nhang. Nén nhang tỏa ra mùi hương d ìu
dịu và làn khói như muốn ôm ông vào lòng, quấn quýt không rời. Ông lôi
từ trong túi áo ra chiếc hộp nhỏ bằng thủy tinh và đặt nó bên cạnh lư
hương.
“Anh xin gửi lại cho em và
mong em hiểu, Thanh ơi!” - Ông l ão
nói nghẹn ngào trong nước
mắt.
Rồi ông lẳng lặng đi về phía
chiếc xe lam cuối cùng trong ngày.
*
* *
“Ủa, “bố” già mới đây mà bỏ đi
đâu rồi?” - Cô gái thốt lên khi vừa trở lại.
Nén nhang đang cháy dở và một
vật g ì trên bàn thờ đập
ngay vào mắt cô. Run run, cô với lấy chiếc hộp.
Bên trong, cái móng tay có dáng vầng trăng khuyết
nằm đó, nhỏ nhoi, bất động.
Một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng khiến cô gái
tuôn trào n ước mắt:
“Dượng Hai, dượng Hai ơi!”.
“Nhà có mất thứ g ì
à?” - Người yêu của cô gái
hỏi.
Cô gái trừng mắt nh ìn
người yêu. Chẳng nói chẳng rằng, cô lao vút về phía bến đò sang cù
lao.
Trong cảnh nhập nhoạng của buổi hoàng hôn, trước
mắt cô gái, căn chòi cũ kỹ của ông lão đã đổ ập xuống vì trận bão đêm
qua.
Nha Trang, 11/1996
(trích trong tập
truyện "Tiếng chuông trôi trên sông" của Vũ Hồng - Tặng thưởng Văn học
của Hội nhà văn Việt Nam năm 1999) |