"Mỗi năm ra một lần hả?" - Vừa lau nước đọng trên
mặt bàn ông già vừa hỏi mà không nhìn tôi.
"Có gì quan trọng không? - Tôi ngồi xuống băng ghế
phía tay phải ông già. Hai băng ghế còn lại trống trơn. Đặt tờ báo
Tuổi Trẻ Chủ Nhật lên bàn, tôi nhìn lướt qua ảnh bìa chụp cảnh
Sapa.
Bất giác, tôi nhận ra mùa thu đang bắt đầu kéo về
trên bầu trời Hà Nội. Mồ hôi của tôi không còn tuôn ra thành suối như
mấy hôm trước nữa. Cả đoạn phố dài thỉnh thoảng có những chiếc lá vàng
len lén rơi.
"Ra đây một lần mỗi năm à?" - Ông già vẫn không
nhìn tôi, rót cho tôi một chung trà bốc khói.
"Bố pha trà ngon lắm" - Tôi nói.
"Tao biết gu của mầy mà!".
"Hình như bố có pha cả mùi cỏ dại lẫn với mùi đất
ngai ngái trong đây. Con thích nó".
"Mầy ra đây hồi nào?".
"Hơn một tháng rồi. Giờ con mới ghé bố được vì phải
đi Hòa Bình, đến Tam Đảo, đi chơi thôi, rồi con mới tới Sơn Tây do quá
mê thơ ông Quang Dũng. Dĩ nhiên là bố biết con mê thơ rồi chỉ đi chơi
suốt ngày thôi. Con định sáng nay ra ga mua vé. Hồi nãy xe ôm không
chạy ngang đây thì con quên bố luôn rồi".
"Bữa may tao tính nghỉ bán, hơi đau cái lưng, không
biết trở chứng gì mà lại buồn ngang xương nên mới bày cái bàn trà
này..." - Ông già cười tủm tỉm, nghịch ngợm chơi lại một vố câu nói
đùa của tôi. Cánh tay chằng chịt những sợi gân của ông già đang sắp
xếp lại vài chai bia, mấy cái keo thủy tinh đựng đầy kẹo xanh kẹo đỏ
và 2 gói thuốc Vinataba với 3 gói thuốc Thăng Long... Tôi thấy đôi tay
ông không còn nhanh nhẹn như cách đây 5 năm.
"Hay mầy uống bia? Tao nhớ là mầy thích uống bia
lắm mà?".
Tôi nói cám ơn, rồi nói thêm: "Phải chi bố mời con
lúc trưa hay chiều tối thì con sẵn sàng. Con không uống bia vào buổi
sáng. Bia rượu sẽ làm hư buổi sáng của con".
Ông già bật cười, chòm râu thưa đong đưa; nhìn tôi
với ánh mắt nghi ngờ:
"Mầy uống bia trời thần luôn mà còn giả bộ. Mỗi năm
mầy ra đây một lần à? Lúc nào tao cũng nhớ là năm nào mầy cũng có mặt
ở đây. Đã gần 50 năm rồi tao chưa có dịp nào về thăm quê trong Nam".
"Bố kiểm tra lại bộ nhớ của bố đi, đã 5 năm rồi con
mới tình cờ gặp lại bố đó. Con ghé thử xem cái quán cóc của bố có còn
không rồi con sẽ biến về Mỹ Tho ngay. Hồi hôm vợ con điện bảo phải về
gấp vì có việc nhà. Gấp cái gì thì vợ con không nói, kỳ cục vậy, giống
như mấy ông nhà văn viết là người con gái ấy tuyệt đẹp nhưng không tả
rõ ràng là đẹp cái gì".
"Vớ vẩn" - Ông già dường như cụt hứng vì bị cắt
ngang lời nói. Với tay lấy tờ Tuổi Trẻ Chủ Nhật, ông lật lật
vài trang và dừng lại ở bài "Khải hoàn môn ở các nước". Đọc xong ông
già có vẻ buồn.
Tôi tự động khui một chai bia của ông, trên cái bàn
của ông, rót ra ly của ông, rồi mời ông.
"Mầy còn đủ tiền đi xe về không?".
"Bố già nầy thiệt tình..." - Tôi cười.
Chợt ông già đưa mắt nhìn thẳng vào tôi:
"Chút nữa cho tao gởi mầy ít đồng".
Tôi đáp là tôi rất ngạc nhiên bởi câu nói đó. Mắt
ông già hình như chớm đỏ:
"Hồi đi tập kết ra Bắc tới giờ tao chưa về thăm lại
quê lần nào. Tao gởi mầy ít đồng để về thăm quê dùm tao. Mầy chỉ việc
đến quê tao, đứng nhìn chơi thôi, rồi sang năm ghé đây tả lại tao
nghe!".
"Đâu phải năm nào con cũng đến Hà Nội đâu, ông Hai?
Có khi là 10 năm, 20 năm chưa biết chừng".
Tôi lúc lắc đầu, nhìn ông già và tỏ ý không hiểu,
và cũng ngay khoảnh khắc ấy tôi thấy là ông đã quá già so với lần gặp
hồi 5 năm về trước. Đã vậy, bây giờ ông già cứ rít thuốc lào sòng sọc;
đám khói này chưa kịp tan lại có đám khói khác phun ra, mịt mù cả nửa
đầu con hẻm nhỏ.
Có một lúc tôi mượn ống điếu rít thử một hơi, cũng
có khói nhưng sau đó tôi bị ho sặc sụa.
"Con cứ nhìn thăm quê dùm ta!" - Ông già lại nói.
Tôi chùi nước mắt:
"Lần đó bố có nói nhưng con quên mất tiêu quê bố ở
đâu rồi. Rượu nó làm đầu óc con hư như vậy đó. Mà bố là nghệ sĩ nhân
dân, muốn về Nam một chuyến đâu có khó?".
"Về được hay chưa về được chỉ là chuyện riêng của
gia đình tao thôi, đâu có dính dáng gì đến chuyện nghệ sĩ này nọ".
"Nhưng quê bố ở đâu, con quên rồi?".
Ông già không thèm đáp. Một ông già khác, hơi mập,
đi bách bộ buổi sáng tạt vào. Tôi thấy hai ông già cười với nhau,
không nói gì. Tôi bèn lấy tờ báo ra đọc mà không còn bị ai quấy rầy.
Đọc báo buổi sáng bên ly nước trà thơm trong một ngày đầu thu Hà Nội
thì thật thú vị. Tôi lặng lẽ đọc bài "Thế hệ quả chuối" ở trang 5, còn
hai ông già bắt đầu phàn nàn chuyện thanh niên đua xe trái phép ở Hải
Phòng, rồi sau đó bàn sang chuyện ông Abbas từ chức ở Palestine.
Những ngày dài ở Hà Nội để lại trong tôi điều gì
nhỉ, tôi cũng không biết nữa. Chỉ có những ngày về lại quê hương thì
bất chợt, trong một khoảnh khắc mong manh nào đó, lòng tôi mới đau đáu
nhớ về mảnh đất này; và đặc biệt trong đó có nỗi nhớ về cái quán cóc
già nua của ông Hai Nam bộ già nua này. Tôi nhớ ông bởi một lẽ tôi
không biết gì nhiều về cuộc đời riêng tư của ông cả, một nỗi nhớ kỳ
quặc.
"Tàn thuốc làm cháy tờ báo rồi kìa" - Ông già Hai
nói.
"Đi rồi à?" - Tôi hỏi.
"Về kịp đưa cháu ngoại đi học. Tội nghiệp ông bạn
già Hưng Yên của tao. Bộ mầy khoái nhìn con gái đi ngoài đường lắm
hả?".
"Bậy bạ không, ông Hai!".
"Cứ theo ánh mắt mầy, tao biết. Ánh mắt mày bị cận
nhưng nó gởi đi xa lắm, không nhớ vợ thì chắc chắn là nhìn con bé
trắng trẻo bên kia đường. Bài báo đó viết về cái gì vậy?".
"Con chưa đọc".
"Vậy cũng bày đặt. Tao biết mầy quá mà!" - Ông già
cười hề hề.
Tôi lại rít thử một hơi thuốc lào, rồi chùi nước
mắt:
"Quê bố ở đâu vậy ta?".
"Mầy nhớ nhìn thăm quê dùm tao một chút nghe!".
"Nhưng là ở đâu mới được chứ? Lần ấy con say quá!".
"Bộ quên thiệt hả mầy?".
Ông già nheo nheo mắt nhìn tôi. Tôi lảng sang nhìn
theo một đôi chân trần và thon, mặc váy màu đen, hai đầu gối chụm vào
nhau cỡi trên chiếc Spacy phóng vụt qua. Những chiếc lá khô trên mặt
đường như muốn chạy theo đôi chân ấy nhưng chạy theo không kịp đành
nằm lại, buồn bã. Ông già vỗ vai tôi sau khi nhấp một ngụm bia:
"Đừng đứng núi này trông núi nọ, con ạ! Tao sống
gần 80 tuổi đầu rồi, tao biết. Mấy nói về gấp chứ chừng nào về?".
"Tối nay, bằng xe lửa. Tới Sài Gòn con sẽ đón xe
tốc hành Mỹ Tho. Bố còn giữ số điện thoại của con chứ? Có dịp về Nam
thăm quê, điện trước con đón. Nhà con ở ngã ba Trung Lương...".
"Thôi..." - Ông già trầm ngâm chừng một phút rồi
sau đó nói như người bị hụt hơi - "Tao mồ côi từ nhỏ mà. Ông bà già
tao còn không biết là ai nói gì tới bà con họ hàng. Mầy cứ qua phà
Rạch Miễu là tới quê tao".
Hình như hai chữ Rạch Miễu đã khiến tôi mang máng
nhớ ra. Lần gặp trước tại căn gác áp mái trong khu tập thể mà gia đình
ông đang sống, một bữa rượu say túy lúy bởi tình đồng hương, có cả
Khanh ở Cà Mau, Nguyễn ở Kiên Giang, ông già đã kể cho chúng tôi nghe
gia cảnh nhà ông: có người con trai độc nhất hy sinh ở Nam Lào năm
1972 và từ đó bà vợ ông bị rối loạn tinh thần, ngơ ngơ ngác ngác, ông
già không bao giờ dám bỏ bà ấy mà đi đâu xa, dù chỉ đôi ngày.
"Bà Hai vẫn khỏe chứ, bố?".
"Dạo này đỡ, ít ra ngoài phố này ngồi khóc. Mầy nhớ
rồi hả. Dạo này có con cháu gái ở Hải Dương lên học đại học, rảnh thì
chăm sóc bà ấy, tao cũng nhẹ một tay. Mầy qua phà Rạch Miễu, đến ngã
ba gần thị xã, quẹo phải theo đường về Hàm Long. Hồi đó tao lớn lên ở
xóm Cây Da. Gần 50 năm rồi chắc có nhiều thay đổi. Ờ, tao nhớ có một
ngôi thánh thất Cao Đài, có một hàng cây dầu mùa gió về rụng đầy những
cánh hoa xoay, có một ngôi trường nho nhỏ, một con kinh chảy vắt ngang
nối hai con sông Hàm Luông và Ba Lai, có nhiều người đàn ông nhậu ngút
trời vào những buổi chiều, có mấy chiếc xe ngựa cũ kỹ... Mầy nhìn thăm
hết dùm tao!".
Tôi bật cười:
"Tiến lên công nghiệp hóa hiện đại hóa rồi mà còn
xe ngựa nỗi gì, bố?".
"Ờ nhỉ, tao lẩm cẩm quá rồi hả? Giờ này chắc gì còn
xe ngựa nữa hả? Nói vậy chứ xóm tao cũng bình thường, không có gì đáng
nhớ. Tao nhớ hoài tiếng ồn ào của khu chợ chồm hổm buổi sáng tinh mơ,
tiếng gà eo óc gáy vào buổi trưa hè và tiếng chuông chiều mang lại mùi
hăng hăng của cỏ dại, của rơm rạ, của mùi bùn non... Xóm nhỏ của tao
chỉ là một xóm nhỏ, không là gì trong mắt mọi người nhưng là cái xóm
nhỏ của tao, mầy hiểu chứ?".
"Bố làm con muốn khóc rồi đó. Con kỵ nhất là khóc
vào buổi sáng. Được, con hứa sẽ sang thăm xóm của bố dùm bố, nhưng
tiền thì con không nhận đâu".
"Vậy thì tao không nhờ mầy nữa".
Tôi lưỡng lự một giây:
"Vầy được không, con nhận tượng trưng cho bố vui,
còn bao nhiêu con gởi lại. Con nhìn quê dùm bố xong, quay hết một cuốn
phim rồi gởi ra bố ngay bằng đường bưu điện".
Đột nhiên, ông già nói nhát gừng:
"Không quay phim, chụp hình gì hết. Mầy cứ nhìn rồi
để trong đầu, khi nào có dịp đi Hà Nội, rảnh ghé đây kể tao nghe. Tao
chỉ muốn tưởng tượng về quê tao qua cái nhìn dùm của mầy thôi".
Đôi mắt ông già chợt rươm rướm nước theo cơn gió
heo may tràn qua một góc phố nhỏ Hà Nội.
Xóm Cây Da - Bến Tre, 2003