"Nhanh tay lên một chút rồi nghỉ, con!".
"Tối nay có trăng mà ông".
Ông Nam đổ thùng rác lên xe cút kít, miệng hối
thằng bé đang mải mê giơ chân nghịch sóng. Một khúc cây khô bị sóng
tấp vào bãi, thằng bé lon ton chạy tới. Nó khệ nệ ôm khúc cây để riêng
nơi rặng dừa, nằm khuất sâu phía trong.
Buổi chiều xuống thật nhanh trên xóm Vịnh. Mặt trời
đã khuất dần phía bên kia núi, vướng lại trên không trung vài tia nắng
vàng nhạt. Gió biển càng lúc càng mạnh. Xen lẫn trong làn gió chút se
se lạnh của mùa bấc từ phương Bắc thổi về, mang theo sự khô hanh và
rin rít của muối mặn. Ngày lập đông đến rồi. Ông Nam nhận biết điều đó
khi nhìn thấy những đàn chim từ xứ lạnh lũ lượt đổ về vùng nhiệt đới
này.
Chùi hai bàn tay dính đầy cát vào vạt áo, ông Nam
khum xuống nâng càng xe và thằng bé thì hì hục đẩy từ phía sau. Bánh
xe cút kít hằn sâu một đường lên mặt cát mịn màng, trắng phau. Cứ thế,
hai ông cháu kéo hết xe rác này đến xe rác khác cho đến khi bãi cát
dài gần một cây số trở nên sạch trơn như một tấm vải lụa.
Trời sập tối lúc mọi chuyện cũng vừa xong. Sắc vàng
tươi ban chiều biến mất, thay vào đó là màu tím thẫm của biển cả. Họ
bước dần xuống mép nước để rửa ráy qua loa. Gần như cùng một lúc,
trong tích tắc, hai ông cháu đều đứng ngẩn người ra nhìn vầng trăng
như một quả cầu lửa, ấm áp, ngoi lên phía chân trời.
"Con về trước đây" - Thằng bé bật thốt sau vài phút
lặng im - "Tối nay mấy đứa trong xóm rủ con đi rằm".
"Có đi cũng phải về sớm".
"Con biết mà".
"Coi chừng vấp té!".
Ông Nam nói với theo lúc thằng bé lao đi như một
mũi tên. Ông trìu mến nhìn theo một lúc lâu. Thằng bé tuy hay nghich
phá nhưng thông minh. Mới có 12 tuổi đầu nhưng nó đã có kiểu nói
chuyện và hỏi han bắt chước người lớn. Ông nhớ, cách đây sáu tháng,
ông dẫn nó đi chơi ở thị xã. Lúc ngồi trong một quán nước giải khát,
nghe một tốp sinh viên cao đẳng đang kháo nhau một cách tâng bốc sự
siêu đẳng của máy vi tính, có thể thay người làm tất cả mọi chuyện.
Ông nghe nhưng không tưởng tượng nổi đó là chiếc máy quái quỷ gì bởi
lẽ nhà ông ngay cả cái ti vi đen trắng còn chưa có, huống hồ... Nghe
vậy, thằng bé háo hức sà đến làm quen và hỏi tốp sinh viên nọ đủ thứ
chuyện về chiếc máy diệu kỳ kia. Cuối cùng, nó buông một câu khiến ai
nấy có mặt trong quán đều ôm bụng cười ra nước mắt: "Thế máy vi tính
có lượm rác thay ông cháu em được không, mấy anh? Sau này nhất định em
sẽ cố làm ra tiền để sắm cho ông một cái".
Mỉm cười một mình, ông Nam lững thững đi tắt qua
khu du lịch. Những ngày đầu tuần, buổi tối khu du lịch thường vắng
tanh. Du khách đến đây buổi sáng và vội vã về trong ngày, bỏ lại sau
lưng đủ loại rác rưởi, từ túi ni lông, vỏ lon bia, đôi guốc sứt quai
cho đến cả những bao cao su... Ông lượm rác còn thằng bé thì phân
loại. Cây khô từ biển tấp vào đem về làm củi chụm. Thứ nào bán ve chai
được thì bán, đỡ đồng nào hay đồng đó.
Qua khỏi khu du lịch một đỗi là đến xóm chài. Chui
qua những sào lưới chằng chịt, trong gió đã thoang thoảng có mùi cá
khô và mùi nước mắm. Lúc đó ông mới dứt khỏi luồng suy nghĩ về thằng
bé.
Ông bước vào quán rượu bà Tư Lý nằm nép mình dưới
rặng dừa. Đó là một quán rượu nhỏ, ẩm thấp, nồng nặc mùi khói thuốc rê
và mùi tỏi chiên. Đám ngư dân đang say ngất ngư. Một gã thanh niên có
mái tóc bờm xờm đang hát một khúc ca gì đó về biển cả. Tất cả lè nhè
hát theo. Gió biển vẫn rít ào ào qua những rặng dừa.
Trái với những người già khác, ông Nam lại thích
thú với cảnh sôi động của quán xá. Tối nào ông cũng đến đây, nhấp môi
với người này một ly, trò chuyện với người kia vài câu là ông thấy mãn
nguyện. Thật ra, tửu lượng ông không mạnh lắm. Uống vào chừng ba ly
con là ông liền có cảm giác khó thở, nhưng không uống ông thấy như
thiêu thiếu một cái gì. Dù gì cũng đã già rồi, còn cữ kiêng gì nữa.
Ông thường tự bào chữa cho cố tật của mình như vậy. Nhiều khi ông cũng
đặt câu hỏi rằng mình ghiền rượu hay ghiền cái không khí ồn ào, thân
tình của những người dân chài nơi cái xóm nghèo miền biển này. Được
sống trong không khí ấy, ông như bắt gặp cái cảm giác mình đang vẫy
vùng giữa biển khơi. Ông mang máng nhớ là dường như có một quãng đời
nào đó, xa thật xa, ông chính là tuổi trẻ của đám trai tráng ngư dân
đang gào thét đằng kia. Và cũng chính biển cả đã cướp đi trí nhớ của
ông, dìm sâu nó vào lòng đại dương. Ông không thể nào nhớ lại thời
trai trẻ của mình trôi qua như thế nào. Và điều đó khiến ông lúc nào
cũng có vẻ phiền muộn.
"Nửa xị, chị Tư!" - Ông Nam tựa người vào quầy.
"Ừa. Anh Nam hả? Ăn cơm chưa?" - Bà Tư với tay lên
kệ lấy chai rượu đong sẵn.
Ông Nam không đáp bởi ông thừa biết bà ấy hỏi cho
lấy có. Cầm chai rượu và nửa con khô ốc biển, ông lầm lũi vòng ra sau
hè, đi xuống sát mép nước. Chật vật lắm ông mới nhóm lên được ngọn lửa
nhỏ từ những cành cây khô. Ông nướng ốc và ngồi nhấm nháp rượu một
mình.
Với bàn chân sục vào trong cát ấm, ông khoan khoái
ngồi ngắm công trình trong ngày của mình, giống như một anh thợ mộc cứ
đứng nhìn mãi căn nhà gỗ do chính tay anh ta bào đục mà thành. Giờ
đây, dưới ánh trăng lồng lộng của đêm lễ Hạ ngươn(*), bãi cát vàng
chạy thoai thoải theo hình cánh cung, trông mềm mại như lớp da non,
mịn màng. Đã mấy mươi năm rồi, ngày nào ông cũng ngồi đây và nhìn nó
không biết chán. Ông có cảm giác như đang sống lại cùng người xưa khi
nhìn những con sóng hết đợt này đến đợt khác lừng lững ập vào bãi. Ông
tưởng tượng rằng cách đây hàng tỷ năm, mọi việc vẫn diễn ra như thế
này. Vẫn là tiếng sóng biển ì ầm, vẫn là tiếng gió lùa qua đỉnh núi và
từ trong thung lũng, vẫn là tiếng những con thú hoang kêu thảng thốt,
ngỡ ngàng khi bắt gặp ánh trăng huyền ảo...
"Mẹ họ, năm nay hết nóng cháy da lại lạnh đến teo
bu-gi" - Một gã đàn ông đội cái nón sùm sụp vừa đứng tè ra biển, vừa
cất tiếng lè nhè chửi thề.
"Ừa, lạnh!" - Ông Nam chợt nói theo - "Mùa bấc về
rồi. May mà năm nay không có trận bão khủng khiếp như năm ngoái".
"Ủa, ai như chú Nam vậy ta! Hừ, bão. Vợ chồng con
có làm tróc da tay mười năm cũng không cất lại được căn nhà như cũ".
"Ngồi xuống làm một ly cho ấm!".
"Thôi, con phải về đây. Đụng tụi thằng Lũy từ 4
giờ, uống nữa chắc tiêu luôn. Mười phút nữa con không có mặt ở nhà là
con vợ con tới đây quậy sập quán liền. Chúc đêm rằm vui vẻ, chú Nam!".
"Ừa, vui vẻ".
Ông Nam lắc đầu, miệng nở nụ cười khi nhìn gã đàn
ông nọ chệch choạng đi về cuối xóm. Cuộc đời ngư dân là thế, lênh đênh
trên biển hết ngày này sang ngày nọ, vừa đặt chân lên đất liền là họ
đã kéo nhau vào quán rượu, hàn huyên đủ thứ chuyện trên trời dưới đất.
Vầng trăng càng lúc càng leo lên cao, xuyên qua
những đám mây đang lãng đãng trôi. Từ sự tròn đầy, vầng trăng cũng dần
teo tóp lại như cuộc đời của một con người. Ông Nam cứ ngồi bên đống
lửa như thế không biết bao lâu cho đến khi bà Tư Lý lê đôi dép lẹt xẹt
đi hạ mấy tấm liếp che vách ông mới sực tỉnh. "Khuya rồi, anh Nam.
Lạnh nên tôi nghỉ bán sớm" - Bà nói. "Vậy hả?" - Ông chậm chạp đứng
dậy và dúi vào tay chủ quán mấy tờ bạc lẻ. "Thôi khỏi. Sáng ông cháu
anh đến sớm dọn dùm đống rác bên hông nhà là được rồi". "Cám ơn!" -
Ông đáp và đi một mạch ra bãi cát. Có một lúc thật lâu, ông đứng trầm
ngâm nhìn ngôi pháo đài cổ, sừng sững nơi cửa sông. Bất giác nước mắt
ông trào ra.
Pháo đài cổ đứng sừng sững ven cửa sông, ở đầu phía
bên kia bãi cát. Nó như một khối đá đen ngòm, đầy rêu, hình tứ giác.
Mặt chính của nó hướng về phía Đông. Con đường độc đạo dẫn vào pháo
đài phải đi theo hướng Tây Bắc. Phía Nam là cửa sông lớn với những
dòng nước cuồn cuộn đổ về từ phía thung lũng. Xung quanh nó là những
hào thành chằng chịt, nhưng vì lâu ngày nên chúng đã bị cát phủ đầy,
chỉ còn loe hoe vài lùm cỏ dại và đám xương rồng. Không thấy sử sách
ghi lại lai lịch của ngôi pháo đài này nhưng theo truyền miệng thì có
lẽ nó được xây từ thời vua Minh Mạng. Dấu tích của những chiến trận
đẫm máu duy nhất còn lại chỉ là một góc sạt lở nơi cái đỉnh hình mái
vòm của pháo đài. Theo truyền thuyết, các chiến binh canh giữ vùng
biển này đã tử vong hầu hết trong trận đụng độ với tàu chiến Pháp hồi
năm 1883. Nhưng kể từ đầu thế kỷ XX, pháo đài bị bỏ hoang phế bởi vì
theo con mắt của các nhà quân sự đời sau, pháo đài nằm ở một vị trí
bất lợi. Thành thử có một quãng thời gian dài, nó là nơi trú thân của
các loài rắn rết, bò cạp và chim muông, ít người héo lánh tới.
Chỉ mới nghe tiếng chân ông Nam dẫm qua lớp sỏi rải
trên con đường độc đạo, thằng bé liền ngưng việc học bài, lúi húi dọn
cơm. Thường bữa cơm hàng ngày của hai ông cháu chỉ là vài miếng đậu hũ
chiên và rau muống luộc. Hôm nay thì khác, thằng bé tìm đâu được gói
mì chay, chế biến thành một tô canh ngon lành. Nó cảm thấy vui vì điều
đó.
"Ở đâu mà có thứ này vậy con?".
"Của chùa cho".
"Ông dặn hoài. Mình không có làm công quả thì không
được nhận của chùa".
"Nhưng...".
"Chơi rằm vui không?".
"Vui!" - Thằng bé hí hửng, nhảy tót lên ngồi xếp
bằng trên bệ gỗ - "Tụi con chơi trốn kiếm cứu bồ. Con nằm ém
ngoài gò mả, tụi nó sợ ma không dám mò vào. Tối nay con cứu được cả
thảy 9 chiến hữu. Sao ông không ăn cơm? Ông ăn đi, hồi nãy con có ăn
chè ở nhà thằng Nhị, no rồi".
Ông Nam lùa vội chén cơm. Thằng bé nhanh nhảu châm
cho ông bình trà. Nó cẩn thận luộc hết ly tách vào nước sôi. Có vẻ như
nó thích thú với công việc tỉ mẩn của một người sành uống trà ấy.
Khi thằng bé đã trở vào bàn, ngồi học bài thì ông
Nam cũng đã tắm táp xong. Ông leo lên võng, nằm đưa tòn ten, vừa uống
trà vừa trìù mến nhìn thằng bé. Tự dưng, ông thấy ái ngại cho nó khi
tưởng tượng đến một ngày ông phải bỏ nó mà đi xa khỏi cuộc đời này.
Tuổi tác của hai người chênh lệch quá xa và ông cũng biết rằng con
người dù có làm mọi cách đi chăng nữa vẫn phải bó tay trước thời gian.
Hiện tại, trên cõi đời nó không còn một ai thân thích ngoài ông. Hoàn
cảnh của nó cũng giống như hoàn cảnh của ông khi xưa. Dường như ông
trời đã xui nó đến với ông hay đã xúi ông tìm nó giữa trận lũ bất thần
năm ấy.
Nằm lọt lòng trong thung lũng, xóm Vịnh bao gồm hai
xóm nhỏ. Một là ở phía Bắc sông gọi là xóm Cát, tức cái nơi hồi sẫm
tối ông đến quán rượu. Còn lại là xóm bên kia sông, nằm rải rác trên
triền núi, là xóm Đá. Trước lúc thằng bé về sống với ông thì nó sống
cùng cha mẹ nơi xóm Đá, từ ngôi pháo đài cổ nhìn sang.
Cách đây bảy năm, vào quãng tháng tám, lúc ấy xóm
Đá chỉ chừng vài chục hộ, chuyên sống bằng nghề làm rẫy. Ông Nam nhớ
rất rõ buổi chiều hôm đó, ông trời bất thần trút xuống vùng này trận
mưa đá, dữ dội chưa từng có. Cây cối như oằn đi dưới sức gió. Đến khi
mưa ngớt thì đột nhiên xuất hiện những luồng nước từ trên đỉnh núi
tràn xuống. Chúng hùng hổ đến nỗi quật ngã cả những cây cổ thụ hàng
trăm năm tuổi. Cả mấy trăm con người đang sống yên ổn nơi xóm Đá nháo
nhào nhưng đã không còn kịp nữa.
Nước từ thượng nguồn đổ về, kết hợp với nước từ
trên ngàn đổ xuống, dâng lên cuồn cuộn, đục ngầu. Trong tiếng nước réo
là tiếng người la hét cầu cứu tuyệt vọng. Nhìn thấy cảnh ấy, ông Nam
chợt rùng mình. Ông có cảm giác rằng hình như đã có một lần ông rơi
vào hoàn cảnh đó. Không chịu nổi, ông quay mặt đi. Chính vào giây phút
ông định bỏ mặc mọi chuyện, bất thần ông nghe văng vẳng trong tiếng
gió réo là tiếng khóc thét của trẻ con. Tiếng khóc như xuyên thủng qua
bức tường kiên cố của pháo đài, đâm thẳng vào tim ông.
Chẳng kịp nghĩ ngợi, ông chạy băng qua những hào
thành đầy gai xương rồng và lao mình xuống cửa sông, bơi về hướng có
tiếng khóc trẻ con. May là buổi chiều hôm ấy, dòng hải lưu cũng đang
lớn và đang đổ vào cửa sông nên hai dòng nước gặp nhau, càng lúc nước
càng dâng cao chứ không tuôn thẳng ra biển khơi. Những giây phút lựng
khựng của hai dòng nước đã cứu sống thằng bé. Theo bản năng, nó đang
bám vào một mái nhà đã rách nát đang bị những đợt sóng dồi lên dồi
xuống. Lúc ông Nam vất vả lắm mới bơi được đến nơi thì môi nó đã tím
tái đi, tiếng khóc ngằn ngặt, không còn một chút hơi. Cho đến tận bây
giờ, ông cũng không hiểu vì sao tiếng khóc rất nhỏ của thằng bé lại
lọt đến tai ông, lúc đó đang ở chỗ pháo đài, cách nó đang gặp nạn gần
200 thước.
Ngày mưa đá năm đó, người dân trong vùng chỉ cứu
được 42 người, còn hơn 20 người phải gởi thây trên sông nước, trong đó
có cha mẹ thằng bé.
Sau cái lần dám băng mình ra giữa con lũ để cứu
người, cái tên "Nam khùng" trong con mắt người dân xóm Vịnh đã có phần
nào đổi khác. Họ bắt đầu gọi ông bằng cái tên Nam với tất cả lòng kính
trọng. Cái tên mà hồi đó bà già chuyên nghề bán phân dơi đặt cho ông
lúc cứu được ông gần như nằm thoi thóp nơi bãi lầy rừng đước.
Thằng bé chợt húng hắng ho, cắt đứt luồng suy nghĩ
của ông:
"Bộ họ sắp đuổi mình đi khỏi đây hả ông? Con không
thích ở miếu Bà. Con thích ở pháo đài của mình hơn. Cũ mà chắc, có bão
cách mấy cũng không sợ".
"Không lo học bài, biết chi mấy chuyện đó!".
"Mai nghỉ. Thầy cô bận đi học chính trị trên huyện.
Họ tính đuổi ông cháu mình thật à?".
"Ừa!".
"Sao họ đuổi?".
"Ừa đuổi. Ai nói vậy?".
"Mấy người trong xóm".
"Con nít đừng lo mấy chuyện đó!".
"Sao con nít lại không biết lo?".
"Khuya rồi, ngủ đi. Sáng sớm còn đi học".
"Con đã nói thầy cô bận đi học chính trị trên
huyện".
"Ừa, chính trị. Chỗ này phải trả cho người ta làm
ăn".
"Thiếu gì chỗ sao họ lại lấy chỗ mình ở?".
"Đất ở pháo đài là của công".
"Công là sao?" - Thằng bé không buông tha ông Nam,
nó giật giật áo ông mỗi lần hỏi - "Của công là sao? Có giống như của
chùa không ông?".
"Ừa, như của chùa".
"Chùa phải lo cho người nghèo chứ?".
"Mình không làm công quả, nhận của chùa là không
tốt".
"Vậy mình dọn đi, mấy con dơi sẽ ở đâu?".
"Chúng biết cách sống được mà" - Ông Nam đáp -
"Trưa con sắp xếp mọi thứ và quét dọn pháo đài cho sạch. Giao người ta
cái gì cũng phải giao coi cho được".
"Lỡ họ phá pháo đài của mình hư rồi sao?".
"Cái thằng, thân không lo... Hỏi vòng vo hoài ông
đánh đòn bây giờ!".
Ông Nam có bẻ bực mình khiến thằng bé tiu nghỉu.
Nhìn nét mặt phụng phịu của nó, ông chợt cười xòa, xoa đầu nó và bảo
nó đi ngủ vì trăng đã lên đến đỉnh đầu.
Người lớn thường có quyền tối thượng với trẻ con,
khi bị bắt bí chuyện gì cứ dọa đánh đòn, là xong. Chưa đầy mười phút,
thằng bé đã mớ ú ớ, nói những câu gì nghe không rõ. Giữa đêm khuya,
bên ánh đèn dầu nhập nhoạng, chỉ còn một mình ông nằm đó, trơ trọi,
buồn bã lắng nghe tiếng gió hú qua pháo đài cổ. Tự trong thâm tâm, ông
xem pháo đài như là chiếc nôi sinh ra ông, nuôi ông thành người, kể từ
cái ngày trí nhớ ông phải gởi lại biển sâu.
Theo lời dân làng kể lại, vào quãng năm 62 hay 63
gì đó, xung quanh ngôi pháo đài rất hoang vu, cây cối rậm rạp, đầy
trăn và rắn rết. Rồi bất chợt có một người đàn bà không chồng, rất đỗi
xấu xí đến ở, dân làng thường gọi là bà Hai.
Bà Hai ít khi nào ra khỏi nhà, trừ những ngày bà
phải chống xuồng chở phân dơi vào thị trấn đổi gạo và thức ăn, nước
ngọt về dự trữ.
Có một hôm, một cơn bão lớn chưa từng có tràn qua
suốt vùng duyên hải này. Chúng như muốn bứng cả dãy núi đi nơi khác.
Hai ngày sau, dọc dài bờ biển vùng đồng bằng trắng khăn tang và tiếng
kêu than ai oán. Lần ấy, bà Hai đã cứu được một thanh niên trong tình
trạng tuyệt vọng. Anh ta nằm sóng soài trên ghềnh đá, mắt nhắm nghiền,
áo quần rách nát, da thịt bị sóng đánh lở loét từng mảng, chỉ trái tim
là còn đập một cách yếu ớt. Nhận thấy anh ta không phải người xóm này
và cũng không ngần ngại, bà Hai lẳng lặng cõng người thanh niên ấy về
pháo đài, chăm sóc bằng đủ loại cây thuốc Nam mà bà hái được trên núi
cao.
Người thanh niên tỉnh lại trong trạng thái thất
thần. Bà Hai hỏi đi hỏi lại, anh ta chỉ độc có nụ cười hề hề, không
biết mình là ai, quê quán ở đâu và tại sao mình lại có mặt trong ngôi
pháo đài cùng bà già xấu xí kia. Để tránh sự làm khó dễ của tay xã
trưởng dưới thời Nguyễn Văn Thiệu, bà Hai mời vị Đầu họ đạo nơi ngôi
thánh thất đến chứng kiến buổi lễ bà nhận người thanh niên dở điên dở
khùng ấy làm con nuôi. Đứng trước biển, bà nói biển tình cờ đã giao
đứa con ấy cho bà cho nên bà nguyện sẽ nuôi nó đến khi nào bà xuôi tay
nhắm mắt. Bà Hai bảo: "Con nói giọng miền ngoài, trời xui đất khiến
con lưu lạc vào đây, vậy má sẽ đặt tên con là Nam". Người thanh niên
chỉ cười ngờ nghệch. "Còn nữa, con sẽ lấy họ của má, họ Lê; con trai
phải lót chữ Văn. Kể từ bây giờ Lê Văn Nam là con trai của má Lê Thị
Hai. Con lặp lại cho má nghe coi!". Người thanh niên lắp bắp mãi một
hồi mới thốt nên được cái tên lạ hoắc của mình.
Đêm tháng 10 trôi qua thật dài. Ông Nam trở mình,
nhìn những luồng sáng trăng hắt qua lỗ châu mai. Tiếng dế kêu ri rỉ
nơi góc nhà chợt im bặt, nhường chỗ cho tiếng lao xao của gió rít qua
rừng cây trên triền núi phía bên kia sông. Bà Hai sau này thường nói
vui, ông được nuôi sống phần nhỏ là nhờ bà nhưng phần lớn là nhờ bà
con làng xóm. Những ngày điên dại đó, ông hay đi thất thểu trên bãi
biển và lang thang suốt ngày ở xóm Cát. Người thì cho ông ổ bánh mì,
nải chuối; người thì cho ông củ khoai, ngụm nước... Nhưng bù lại, tuy
mang dáng vẻ của một người điên nhưng hễ có chiếc tàu đánh cá nào máy
móc bị hỏng hóc, ông đều tự nguyện nhào xuống, phụ sửa một hồi thì
chiếc tàu ấy đã có thể nổ máy ra khơi được. Dân làng phục lăn. Họ đoán
mò rằng chắc trước kia ông là một thợ máy giỏi của một chiếc tàu đánh
cá nào đấy bị bão nhận chìm. Thậm chí, có người còn thêu dệt nên
chuyện ông được cá Ông cõng về.
Tiếng gà gáy sang canh bắt đầu rộ lên từ phía xóm.
Lại thêm một đêm nữa ông không chợp mắt được. Chiều ngày mai là ông đã
phải rời khỏi nơi chốn quen thuộc này để nhà nước tiếp quản và họ sẽ
thi công một công trình gì đó. Trong giây phút ấy, bất giác ông nghe
mắt mình cay xè khi nhớ lại hình bóng bà má nuôi hàng ngày lụm cụm
quét gom đống phân dơi trên căn gác áp mái, nhớ lại những chú dơi đêm
nào cũng sà xuống đậu trên vai ông...
Ông cứ thừ người ra, hết nhìn vách tường với đám
rêu mốc rồi nhìn sang bàn thờ bà má nuôi. "Thôi, có vậy cũng tốt" -
Ông nói vu vơ, ngồi dậy vấn một điếu thuốc. Cách đây ba năm, có một
đoàn khảo sát trên tỉnh về. Họ xem xét và quyết định lập một khu du
lịch nơi xóm, ngoài bãi cát. Một năm sau, khu du lịch hình thành với
những ngôi nhà bện rơm, hình tai nấm, nằm cách pháo đài của ông khoảng
500 thước về phía Bắc. Lẽ đương nhiên, cái pháo đài đứng sừng sững,
ngạo nghễ ven cửa sông đã không qua mắt họ. Họ đến đặt vấn đề ông phải
di dời đi nơi khác. Ông cự tuyệt. Cho đến khi họ dùng lời lẽ cương
quyết hơn, cho rằng mảnh đất mà ông đang ở là đất do nhà nước quản lý,
ngay cả pháo đài cũng là một di tích lịch sử, không ai được quyền xâm
phạm và chiếm làm của riêng.
Suy nghĩ đúng một tháng, ông Nam mới thấy họ nói
cũng có cái lý của họ. Kể từ đó, ông biếng ăn biếng ngủ, chắp tay đi
vòng quanh khuôn viên pháo đài, đặt tay rờ rẫm từng viên đá, từng bậc
cầu thang lên xuống bằng gỗ và thủ thỉ với chúng những lời không đầu
không cuối. Sau cùng, ông chấp nhận. Ông xin ủy ban xã tạm thời cho
ông cháu ông được ở tạm trong gian hậu liêu của ngôi miếu Bà đầu xóm.
Có lẽ rồi đời ông Nam sẽ bình lặng trôi qua và chìm
khuất đi như của biết bao số phận người dân miền biển nghèo khác nếu
không có cái chuyện ông lượm được một cái ví lẫn trong đống rác. Ông
đem giao lại cho bà chủ nhiệm khu du lịch để trả cho người mất. Trong
ví là tiền mặt và một số tư trang trị giá khoảng mười ngàn đô la Mỹ.
Một cô du khách trẻ người Anh tìm lại được của đã mất, luôn miệng cảm
ơn ông rối rít. Ông nghe xí xô xí xào, chẳng hiểu gì cả. Bà chủ nhiệm
nói cô ta muốn biếu ông một số tiền. Ông liền bỏ đi một nước. Duy cái
bằng khen, kèm theo năm chục ngàn đồng tiền thưởng của huyện thì ông
nhận. Một số người dè bĩu, cho là ông ngu. Ông chỉ cười.
Từ câu chuyện trả lại tiền cho người mất đó của ông
Nam nên mới có nguyên nhân dẫn đến phần kết câu chuyện này, tôi sẽ kể
ra sau.
Một hôm, có một tay phóng viên thường trú tại đồng
bằng của một tờ nhật báo về xóm Vịnh tìm ông Nam theo lời người ta đồn
đãi. Anh ta khăng khăng đòi chụp ảnh ông để đăng lên báo. Miễn cưỡng,
ông gật đầu, sai thằng bé chạy vào nhà, lục trong hòm gỗ, lấy cho ông
cây kèn ahrmonica. Bức ảnh được tay phóng viên chụp thật là khéo.
Đường nét và bố cục sắc đến nỗi thấy rõ ánh mắt sượng sùng của ông khi
lần đầu đứng trước ống kính, thấy rõ cả bốn chữ T.T & H.Q khắc
sâu trên chiếc kèn. Chiếc kèn mà theo lời bà Hai, lúc bắt gặp ông nơi
ghềnh đá, tuy sắp chết đến nơi nhưng tay ông vẫn không buông rơi nó.
Trời gần về sáng, thật lạnh, ông Nam giở mùng, đắp
thêm cái áo ấm cho thằng bé. Ông tìm mấy miếng tôn gỉ sét, chẹn kín lỗ
châu mai để chắn gió. Xong xuôi, ông bước ra ngoài. Trong màn sương
dày đặc, bóng ông lão co ro kéo chiếc xe cút kít xuống bãi cát. Tiếng
bánh xe kêu cót két hòa vào tiếng sóng ầm ào của biển cả, đơn độc.