|
“Sao ông không gọi cửa, Kim?”.
"Định hù bà chơi!”.
Nàng nở nụ cười móm mém khi
kéo cánh cửa rào tre. Ánh nắng chiều tháng Năm vàng rộm, phủ lên căn
nhà lá nhỏ và những đám hoa dại trước sân. Từ phía sông Hàm Luông vẳng
vào tiếng sóng vỗ bờ róc rách.
Lê đôi chân mỏi nhừ v ́
lội bộ đường xa, tôi bước vào nhà nàng. Nàng đi phía trước tôi, bé nhỏ
trong lớp áo nâu sồng, dáng vẻ nhẫn nhục và cam chịu cho số phận. Nàng
bảo tôi hăy ngồi nghỉ nơi chiếc giường cau và nói rằng nàng sẽ ra vườn
để hái bù ngót về nấu canh, món ăn ưa thích của tôi từ thuở xa xưa.
Tôi cảm động đến ứa nước mắt. Th́ ra, măi măi nàng chẳng bao giờ quên
tôi.
"Tôi cùng đi với bà”.
“Thôi” - Nàng với tay lấy cái rổ nơi vách - “Mới từ
Sài G̣n về, ông hăy nghỉ cho khỏe”.
Nói vậy nh ưng
nàng cũng không ngăn cản khi tôi cất bước theo nàng. Không gian của
buổi hoàng hôn nơi miền quê thật êm đềm với những làn gió nồm và tiếng
chim non ríu rít.
Nét già nua đ ă
hằn sâu lên dáng vẻ của nàng nhưng măi măi trong tiềm thức tôi, nàng
vẫn là cô thôn nữ của ḷng tôi độ bốn mươi năm về trước. Cô thôn nữ có
cái nhăn mũi rất dễ thương mỗi khi nàng giận dỗi ai điều ǵ đă làm
xiêu ḷng biết bao trai làng.
“Vẫn vậy chứ?” - Tôi hỏi.
“Ờ. C̣n ông?”.
“Khỏe nh ư
trâu. Chồng bà có trở về đây thăm bà lần nào không?”.
Nàng thở dài:
“Không. Có lẽ như thế tốt hơn.
Số tôi là suốt đời phải cô đơn. Ông không nhớ hồi đó m ́nh
ưa chơi bói bài sao?”.
“Tin chuyện g ́
đâu không. Tôi bảo bà lên sống với tôi ở Sài G̣n cho có bạn mà bà cứ
lắc đầu hoài. Ở đây lỡ bà có ngă bệnh th́ ai lo? Tôi đ̣i về đây sống
bà cũng không chịu”.
“Ḿnh lớn tuổi hết rồi”.
“Không gian lại rơi vào khoảnh khắc lặng im giữa
chúng tôi. Hai bóng già âm thầm đi bên nhau, ṿng vèo theo những luống
bù ngót gần chân đồng. Điều đó gần như là qui ước ngầm của hai người.
Gặp nhau chỉ để nói vài câu vu vơ, thế thôi, nhưng tôi biết tâm hồn
tôi vĩnh viễn không bao giờ đánh mất h́nh bóng nàng. Chỉ tại chiến
tranh đă đẩy tôi cách xa nàng đằng đẵng ba mươi năm.
Giọng con vạc sành kêu khắc khoải nơi vách lá khi
chúng tôi trở vào nhà. Nàng lúi húi nhóm lửa, c̣n tôi th́ phụ lặt rau.
Ánh sáng nhập nhoạng soi rơ những nét hằn sâu trên mặt nàng. Nghe mùi
khói bếp, tôi chợt thấy ḷng ḿnh ấm lại và hạnh phúc hơn bao giờ hết,
nhất là có những phút giây quư hiếm được sống bên cạnh nàng.
“Bà theo đạo hồi nào vậy ta?”.
“Đâu có theo. Tại thích bộ đồ này th́ mặc. H́nh như
nó cũng giúp tôi xua đi những ray rứt của lương tâm. Ông c̣n ở trong
lính không?”.
“Hưu rồi. Bạn bè chiến đấu cũ giờ chỉ c̣n vài
người. Được cấp một căn hộ nhỏ ở Thanh Đa, một thân một ḿnh thui
thủi. Buồn lắm nh ưng cũng
quen. Tôi đếm từng ngày, từng tháng để mong đến ngày về gặp bà”.
Nàng nói lảng sang chuyện khác
mỗi khi tôi bóng gió thốt nên
ư đó:
“Ông về hưu với cấp bậc ǵ vậy?”.
“Đại tá già”.
“Hồi mới tiếp quản ông là ǵ ta?”.
“Thiếu tá”.
“Lúc đó ông dữ dằn chứ đâu hiền từ được như bây
giờ. Ông khiến tôi phải khiếp vía chứ đừng nói chi đến một sĩ quan
ngụy như ông Tân”.
Tôi cười giả lả:
“Tại chồng bà nhát chứ có ai giết chóc ǵ ai đâu”.
Nàng nheo mắt nh́n tôi:
“Ông không c̣n nhớ khi đó ông nói ǵ à?”.
“Sao?”.
“Ông nói là nếu không nhớ lời Bác Hồ dạy th́ ông đă
bắn ông ấy v́ cái tội c ướp
vợ người ta”.
Câu nói của nàng khiến tôi
sượng sùng. Quả thật, khi d ̣
t́m ra được nhà nàng hồi năm 75, tôi đă thốt nên lời đó mà không biết
v́ sao. Đến khi bước ra đường, tôi và hai người lính cận vệ đă ôm bụng
cười ḅ trong cái nh́n ngơ ngác của dân Sài G̣n đang cầm cờ và biểu
ngữ chào đón đoàn quân giải phóng.
Từ nhỏ đến lớn, tính tôi vốn hay đùa, không cách
chi bỏ được. C̣n nhớ có một lần, lúc tôi là sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn
được gọi lên Cứ họp. Đến giờ cơm trưa, đang ăn bỗng dưng tôi bỏ đũa
đứng dậy và nghiêm trang quay mặt ra cửa khiến ai nấy đều nh́n nhau
ngơ ngác, chẳng hiểu chuyện ǵ xảy ra.
Tôi liền vẫy vẫy tay:
“Bạn hiền đi rửa chân cho sạch rồi vào dùng c ơm
luôn thể!”.
Tất cả dồn mắt theo. Họ chẳng
thấy bóng dáng một người nào ngoài con chó mực của bộ phận hậu cần
đang ngồi ch ̣ hỏ gần đó.
Hiểu ư đùa của tôi, các sĩ quan đều cười sặc sụa khiến con chó hoảng
sợ, cong đuôi bỏ chạy. Rủi cho tôi, vị chính ủy sư đoàn vốn không
thích đùa. Ông ta xạm mặt lại và hầm hầm bỏ đi. Lúc này tôi mới để ư
thấy chân ông ta c̣n lấm lem bùn đất. Tôi như nửa cười nửa mếu. Cho
nên, tham gia cách mạng từ những ngày kháng chiến chống Pháp cho đến
ngày giải phóng miền Nam, tôi cứ hết lên thiếu tá rồi lại xuống đại úy
v́ những tṛ đùa vô t́nh như
vậy.
Leo lên v ơng,
nằm đưa ṭn ten, tôi mỉm cười một ḿnh khi nhớ lại chuyện cũ khôi hài
ấy. Bên bếp lửa này, trong gian nhà ấm cúng này, có nàng và tuổi già
dần đến, hầu như tất cả những chuyện mà ngày xưa tôi lấy làm buồn
phiền giờ trở nên giản đơn hết thảy. Cuộc đời như một ṿng xoay chong
chóng, có làm ǵ chăng nữa th́ cũng đến ngày chong chóng không c̣n đủ
sức để quay. Cũng như tôi, đă từng xông pha biết bao nhiêu chiến trận,
uy dũng là thế rồi cũng đến ngày không biết tôi có c̣n kịp chọn cho
ḿnh một vuông đất nhỏ để nằm nghỉ hay không?
“Ông nghĩ ǵ mà tủm tỉm c ười
hoài vậy, Kim?” - Nàng đặt mâm cơm nơi chiếc bàn nhỏ - “Ông ăn cơm
đi!”.
Mùi canh bù ngót nấu với tép
xộc vào mũi khiến bụng tôi như có kiến b ̣.
Nàng về làm vợ tôi trước chiến thắng Điện Biên Phủ chừng vài tháng vậy
mà chỉ ít ngày sau nàng đă đoán được khẩu vị của tôi. Đến khi tập kết
ra miền Bắc, tôi xuống tàu và đi biền biệt, bỏ lại nàng nơi miền quê
nghèo với nước mắt lưng tṛng và chén canh bù ngót mặn nồng.
“Bà ăn luôn thể!”.
“Nh́n ông ăn là tôi no rồi. Vả lại hồi đó tới giờ
tôi có ngồi ăn chung với ai đâu kể từ ngày ông đi. Riết rồi thành
quen. Cha con ông Tân cứ thắc mắc với tôi chuyện đó hoài”.
“Th́ hồi c̣n là vợ tôi bà cũng có chịu ngồi cùng
mâm với tôi đâu. Lúc ấy, bà con hàng xóm nh́n vào cứ phê phán tôi đă
làm cách mạng mà đầu óc nặng phong kiến, phân biệt giai cấp ngay cả
với vợ con” - Chợt nhớ ra, tôi hỏi “Đứa con gái của bà giờ sống ở
đâu?”.
“Nó theo chồng sang Pháp. Nó biết tôi c̣n hận cha
nó nên có viết thư về khuyên tôi sang sống chung với gia đ́nh nó. Già
rồi, làm sao mà tôi an ḷng nhắm mắt ở xứ ng ười
được”.
Lời nói trôi xuôi của nàng
khiến tôi thừ người ra, nghĩ ngợi. Mấy năm gần đây, l ̣ng
tôi luôn ray rứt tự hỏi có phải v́ sự hiện diện của tôi mà hạnh phúc
gia đ́nh nàng tan vỡ hay không. Hồi những ngày đầu tiếp quản, c̣n say
sưa trong chiến thắng, tôi không nghĩ đến hậu quả do tôi gây ra nên
thường xuyên lui tới nhà nàng. Chồng nàng tuy có phần uất ức nhưng vẫn
phải niềm nở tiếp tôi bởi lẽ ông ta đứng vào hàng ngũ những người bại
trận vô điều kiện. Nhưng rồi tôi tự an ủi rằng, chẳng qua tất cả là do
nơi lỗi lầm của ông ta. Ông ta đă cố t́nh cưới vợ có chồng đi tập kết
để được lănh thưởng. Điều đó do chính nàng phát giác ra khi hai người
có với nhau một đứa con. Nàng ngầm oán hận chồng nhưng không nói ǵ
suốt cả thời gian dài sau đó.
Ra trại cải tạo, chồng nàng được bảo lănh sang Mỹ.
Nàng cự tuyệt không đi theo chồng. Tôi đề nghị nàng nối lại nghĩa xưa
nhưng nàng từ chối. Nàng thề sống cô độc cho đến cuối đời ven bờ Hàm
Luông này, mặc ai có noí ra nói vào th́ cứ nói. Rốt cuộc, tôi cũng
phải đầu hàng tr ước quyết
định lạ lùng của nàng. Và hàng năm, đến những ngày đầu tháng Năm là
tôi mới được phép trở về gặp nàng theo định ước nàng đặt ra cho riêng
tôi.
“Cơm không ngon hay sao mà ông
cứ chống đũa trầm ngâm vậy?” - Nàng cất giọng khàn khàn - “Mắt mũi yếu
quá nên tôi nấu nướng chậm chạp, không biết bụi tro có bay vào đồ ăn
không?”.
“Không đâu. Bà nấu nướng c ̣n
khéo tay không thua ǵ bốn mươi năm trước” - Nh́n thẳng vào mắt nàng,
tôi nói - “Hưu rồi, mai mốt tôi về đây sống cùng bà nghe. Ăn quán ngủ
đ́nh ở Sài G̣n tôi cũng hơi hoải. Tụi ḿnh già rồi, đâu c̣n câu nệ chi
ba cái chuyện cỏn con vừa qua. Mỗi khi trái gió trở trời, ḿnh hủ hỉ
với nhau cho có bạn”.
Nàng lặng im, không đáp. Và sự lặng im ấy nơi nàng
tôi biết là nàng vẫn không ưng thuận. Từ lúc mới quen nhau đến giờ,
nàng măi măi là một v́ sao huyền bí đối với tôi. Nàng đang nghĩ ǵ
trong đầu, ít khi nào tôi đoán đúng được. Rơ ràng nàng vẫn c̣n yêu tôi
nh ưng bên cạnh đó nàng một
mực không chịu chắp nối cùng tôi trừ những ngày bên nhau quá ư ngắn
ngủi.
Nàng đánh trống lảng:
“Hồi đó kêu ông kiếm đứa con
nuôi để đỡ đần hôm sớm, sao ông không chịu?”
“M ăi
măi tôi chỉ có bà trong đời. Nếu muốn có con th́ hồi coi ḅ ở cao
nguyên Mộc Châu tôi đă có vợ ngoài Bắc rồi. Tôi không thể quên bà
được”.
“Định tán tỉnh tôi đó à?”.
“Ủa, câu này hồi đó bà hỏi tôi rồi mà?”.
“Tại ông chứng nào tật nấy. Lẽ ra ông không nên ở
bên quân sự mà phải ở bên tuyên huấn th́ đúng hơn”.
Nàng pha tṛ. Chúng tôi cùng cười. Nụ cười héo hắt
của kỷ niệm đau buồn, của cảnh chồng Bắc vợ Nam và tuổi già gặp lại.
Nàng kém tôi năm tuổi. Sáu mươi mốt tuổi, nàng đă vượt qua ngưỡng cửa
một đời người và tuổi xuân của con người không bao giờ trở lại. Tôi
cũng vậy. Dù có cố níu kéo dĩ văng chúng tôi vẫn không thể nào t́m
được niềm vui trọn vẹn bên nhau.
Đêm châu thổ về khuya càng lúc càng huyền hoặc với
tiếng côn trùng kêu rả rích và tiếng chuông chùa đâu đó từ xa vẳng
lại. Mùi nhang trầm tỏa ra từ bàn thờ giữa nhà phảng phất khiến tôi
nhớ về tuổi thơ của tôi trôi qua trong xứ đạo Cây Da. Dù có mang quân
phục cứng nhắc, tôi vẫn luôn luôn là tôi trong tâm tưởng. Đó là sự
lăng mạn của tuổi thơ và t́nh yêu của nàng. Sự nghiệp của tôi và tâm
hồn tôi nh́n có vẻ là hai thái cực đối lập nhưng vẫn luôn luôn là một
trong tôi. Và có lẽ, người mà d́u tôi từ cơi chết trở về không ai khác
hơn chính là h́nh bóng của nàng.
Tôi c̣n nhớ, vào năm 1967, trên đường trở vào Nam
dọc theo dăy Trường Sơn, một cơn sốt rét ác tính đă quất sụm tôi và
tôi cầm chắc ḿnh không thể nào vượt khỏi bàn tay thần chết. Không
muốn làm giảm nhịp độ hành quân, tôi quyết đ̣i ở lại dù biết rằng cánh
vơng giữa rừng già có thể sẽ là nấm mồ của tôi. Biết không thể khuyên
can ǵ được, đồng đội tôi đành phải nuốt lệ ra đi.
Nh́n đoàn quân xa dần trong buổi hoàng hôn, một
người hay đùa như tôi cũng bắt đầu thấy chạnh ḷng. Sau đó, cơn sốt
rét lại kéo đến hành hạ thân xác tôi. Trong lúc mê sảng, h́nh ảnh nàng
hiện về lẫn lộn giữa hư và thực. Nàng đứng đó, bên băi biển, ánh mắt
nàng nh́n tôi nửa như oán hờn, nửa như trách móc. Ngày chia ly tôi
tưởng chỉ hẹn hai năm là sẽ trở về thế mà giờ đây đă h ơn
mười năm rồi. Chẳng lẽ từ miền Bắc xa xôi, lặn lội trở vào Nam để được
sum vầy cùng nàng, thế mà tôi đành bỏ mặc, xuôi tay nhắm mắt hay sao.
Tôi vùng dậy và lao đi, không
c ̣n biết phương hướng. Cho
đến khi tỉnh dậy tôi thấy ḿnh đang nằm bên mép nước của một ḍng
suối. Xung quanh tôi lố nhố những gă thợ săn người dân tộc. Không đắn
đo, họ liền khiêng tôi về bản. Được hai tháng, sức khỏe tôi b́nh phục
trở lại. Để tỏ ḷng biết ơn công chữa trị của họ, tôi tặng họ một con
dao xếp mà một thằng bạn ở Hải Pḥng đưa cho tôi lúc ra đi. Nhận con
dao, họ mừng c̣n hơn được
vàng bạc châu báu. Sau này tôi được biết vùng đó có nhiều buôn của
người Ê-đê sinh sống.
Tôi nằm đó, suy nghĩ mông lung
trong khi nàng dọn dẹp chén dĩa. Dáng vẻ nhẫn nhục, cam chịu và b ́nh
thản nơi nàng đă khơi gợi trong tôi nỗi chua xót vô bờ bến. Có chồng
đi tập kết, tôi hiểu rơ sự hy sinh của nàng như thế nào để mong c̣n có
ngày gặp lại chồng dù rằng nàng phải cắn răng chịu tiếng phản bội khi
lấy chồng khác. Chẳng lẽ đó cũng là một cách thử thách t́nh yêu nơi
trần thế của ông Trời sao?
“Tôi pha cho ông b ́nh
trà nhé, Kim?”.
“Khuya rồi uống vào khó ngủ” - Tôi chỉ tay xuống
chiếc ghế đẩu - “Bà ngồi đây nói chuyện chơi là tôi vui rồi. Sao bà
không ăn trầu, kỳ vậy ta?”.
Nàng vỗ vào vai tôi và c ười:
“Cái ông này tánh t ́nh
lúc nào cũng kỳ cục. Hay để tôi vấn cho ông một điếu thuốc. Tôi thích
nh́n ông hút thuốc”.
Nàng vấn và đưa cho tôi một điếu sâu kèn, giống y
như ngày xưa, lúc tôi trốn dưới hầm mỗi khi có trận càn của giặc.
Thường th́ mỗi lần nhận điếu thuốc từ tay nàng, tôi cứ cầm ngắm nghía
mà không hút, sợ mùi khói dẫn giặc đến nơi ẩn nấp. Đến ngày xuống tàu,
hành trang tôi mang theo gồm hai hộp thiếc nhỏ để đựng những điếu
thuốc c̣n vương vấn hơi hướm của nàng. Nhưng rồi tôi đă ân hận v́ rốt
cuộc không bảo vệ được chúng trong đợt ném bom oanh tạc của Mỹ.
Hơn bốn mươi năm qua, điếu thuốc nàng vấn bây giờ
vẫn khéo léo như cô Tấm têm trầu mà hoàng tử cách mặt đă lâu vẫn nhận
ra được. Nàng ưa vấn giấy ngược. Hồi đó tôi hay phàn nàn v́ không quen
tay cầm nên th ường làm đổ
sợi thuốc. Nhưng rồi tự bao giờ chẳng biết, tôi bị nhiễm luôn kiểu vấn
ấy đến nỗi mấy tay miền Nam sống chung trên đất Bắc cứ chọc tôi là đồ
đẻ ngược. Và lúc ấy tôi luôn có câu đáp lại: “Khi về hưu tao sẽ có
thêm nghề vuốt cổ những người mắc xương cá”.
“Sao ông không mồi lửa mà cầm
hoài vậy?”.
“Đố bà biết!”.
Nàng lắc đầu:
“Ông th ́
trời ơi đất hỡi, đoán làm ǵ cho mệt”.
“Để về Sài G̣n hút và nhớ...”
“Mấy chữ nhớ th ương
đó năm nào ông cũng nói”.
“Th ́
bà nói mấy chữ đó cho tôi nghe lại cái coi!”.
“Lời nói ra sợ sẽ đánh mất đi mọi điều...”.
“Ái chà, đại tá hôm nay đụng phải triết gia. Lời
nói tạo ra súng đạn chứ súng đạn không thể tạo ra lời nói. Tôi về phe
súng đạn nên chịu thua bà”.
“Nói bậy nói bạ ng ười
ta sẽ gởi giấy cảnh cáo giống như vụ mời con mực ăn cơm cho coi. Hôm
rồi gởi cho ông bộ đồ, ông mặc có vừa không? Tôi chỉ nhắm chừng mà
may”.
“Vừa khít. Xin tiết lộ với bà
một điều”.
Nàng giả vờ làm mặt ngơ ngác:
“Con rơi của ông t ́m
à?”.
“Giỡn!”.
“Thế cái ǵ?”.
“Hồi mới cưới bà tôi vừa với lỗ dây nịt nào th́ bây
giờ tôi vẫn vừa với lỗ dây nịt đó, không mập, không ốm, chỉ có đen và
h ơi bộn tuổi”.
Nàng bật cười nhưng tôi kịp
nhận thấy mắt nàng đỏ hoe. Tôi giả vờ quay mặt đi nơi khác để cố ngăn
chặn cái mà người già hay gọi là tr ̣
trẻ con đó là lau nước mắt cho nàng. Đến bây giờ tôi mới nghiệm ra
rằng, t́nh yêu không bao giờ có tuổi. Nó có tuổi hay không chỉ là
những định lư của người đời mà những người đời đó có lẽ không hề biết
t́nh yêu là ǵ trên trái đất này.
“Tím à!”.
“Chi ông?”.
“Có mấy cái mương quanh nhà. Nếu bà có đi hái rau
hay lượm củi th́ chịu khó ṿng qua đầu bờ. Bà đừng nên đi cầu, té
không ai thấy!”.
“Ông khéo lo. Ông nên coi chừng cái thân ông khi đi
lên những cây cầu thang n ơi
chúng cư. Ở đây ngày ngày có con bé Hoa ở ruộng vào hú hí với tôi
rồi”.
“Th ́
nói vậy mà”.
Nàng nh́n tôi với vẻ ḍ hỏi:
“Lần này ông bị sao vậy? Hay là mấy vết th ương
trở chứng?”.
“Ba cái vết thương đó c ̣n
lâu mới quật nổi tôi. Tối nào tôi cũng cầu xin ông Trời cho tôi sống
bớt đi năm mười tuổi”.
“Ông khùng quá đi!”.
“Thật. Hồi thanh niên tôi vẫn thường nói với bà là
ǵ. Số tôi là sống đến 125 tuổi nhưng bây giờ tôi chỉ muốn sống đến
115 thôi. Sống dai quá cũng kỳ”.
Có tiếng chó sủa ran ngoài đường và tiếng chân rầm
rập của một tốp người đi qua. Tôi trở ḿnh, cảm thấy thân thể ră rời
v́ cả ngày ngồi trên xe ca. Từ Sài G̣n về Bến Tre thật phiền toái,
nhất là sự chờ đợi phà. Ngày trước th́ ít khi có sự chờ đợi như vậy,
nếu cần tôi và đồng đội chỉ ùm xuống và lội vù qua sông.
Tôi nhờ nàng bóp dùm bả vai. Những ngón tay gầy
guộc của nàng mơn trớn trên da thịt khiến tôi có cảm giác như ḿnh
đang trôi bềnh bồng giữa đám mây êm đềm và trong sạch, không chút bợn
nhơ. Gần một đời đi t́m hạnh phúc, giờ đây tôi mới thấm thía rằng hạnh
phúc của con người là được sống trong những phút giây như thế này. Tôi
cứ tưởng nó ở đâu xa và măi đi t́m...
“Ông có c̣n giận tôi không?”.
“Giận cái ǵ?”.
Tôi nghe có tiếng nấc nhỏ từ phía nàng:
“Chuyện tôi không giữ được đứa con của ông”.
“Tại tụi nó đánh bà chứ có phải tại bà đâu. Tôi mà
biết đứa nào tra tấn bà đến nỗi xẩy thai là tôi bắn liền. Đứa nhỏ nếu
c̣n sống giờ cũng bộn tuổi rồi nhỉ?”.
“Th́ bốn mươi, bốn mấy chứ ít ỏi ǵ. Tôi với ông
dám có cháu cố rồi. Nghĩ ại, ḿnh mà làm ông làm bà chắc ngộ lắm!”.
“Ờ, ngộ!”.
Tôi buồn rầu khi nhớ lại sức khỏe đang càng ngày
càng như ngọn đèn dầu leo lét trước gió của tôi. Không biết rồi mai
này tôi c̣n trở về bên nàng được bao lần nữa. Ánh mắt của vị bác sĩ
mới khám bệnh cho tôi gần đây nhất tôi đă đoán được nói ǵ. Tất cả rồi
sẽ qua đi, dù là một người thường hay anh hùng cũng thế, và chỉ c̣n
t́nh yêu ở lại. T́nh yêu của nàng mà tôi đă cưu mang và nâng niu suốt
cuộc chiến tranh. Nó như tiếng chuông ḷng dẫn tôi vào cơi thiên thai
rồi dẫn đi xa măi...; như ḍng sông bao la có đi đâu rồi cũng trở về
biển cả.
Tiếng con b́m bịp kêu nước lớn giữa đêm thanh vắng,
thật buồn. Mùa hè tối nay trôi qua miền châu thổ lại thiếu đi những
giọt mưa ŕ rào trên mái lá. Ngày xưa, tôi đến với nàng từ những cơn
mưa miền quê, thuở hai đứa chiều chiều đi cắt cỏ ven sông. Đó là những
cơn mưa ấm. Nàng từng nói rằng nàng yêu mưa, yêu những giọt thủy tinh
rơi vỡ trong buổi hoàng hôn. Rồi lúc xa nhau, ngồi nh́n mưa rơi trên
cao nguyên Mộc Châu, tôi cố t́m h́nh bóng nàng trong những giọt thủy
tinh mỏng manh ấy.
“Xung quanh vết th ương
của ông sao nó cứ đỏ bầm lên?” - Nàng sờ nhẹ vào vùng hông trái của
tôi - “Vết này bị ở trận nào vậy?”.
“Phước Long” - Tôi đùa - “Nó
đỏ lên v ́ mắc cỡ khi tay
bà đụng phải”.
Nàng xô nhẹ tôi ra:
“Kiểu ăn nói của ông mà không có vợ khi c̣n ở miền
Bắc th́ tôi chẳng bao giờ tin đâu”.
“Th́ ba bà, ba m ươi
ba con, tin chưa?”.
“Chưa biết chừng”.
“Ờ, c ̣n
chuyện này mà lần nào gặp tôi đều quên hỏi bà. Nốt ruồi của bà có c̣n
ở chỗ cũ không?”.
Nàng đấm vào l ưng
tôi. Chúng tôi cùng cười. Niềm vui riêng tư của tuổi già giống y như
của trẻ nít. Và chu kỳ của tạo hóa cứ vần xoay trên số mệnh mỗi con
người.
*
* *
Cách đây chừng sáu tháng, một
người đàn ông gầy c ̣m
trong bộ quần áo nâu giản dị đến ṭa soạn ngay phiên trực của tôi. Tôi
không biết ông ta là ai. Ông ta đă đưa cho tôi một xấp giấy học tṛ độ
chừng mười mấy trang và nhờ tôi đọc, nếu được th́ cho đăng. Ông ta c̣n
nói thêm rằng tôi muốn cắt bỏ đoạn nào th́ tùy ư v́ tính ông vốn thích
đùa. Bận có hẹn với bạn bè làm một độ nhậu tại Tân B́nh nên tôi không
có th́ giờ để tṛ chuyện với ông. Ông ra về và tôi liền để bản thảo
của ông ta vào hộc tủ. Sau đó gần như tôi đă quên bẵng nó đi.
Sáng nay đến cơ quan, tôi giở tờ nhật báo mới thấy
đăng vài ḍng cáo phó và ảnh của một người. Tôi bàng hoàng nhận ra
người ấy không ai khác hơn là người đàn ông đă giao xấp bản thảo cho
tôi dạo nọ. Tên tuổi của ông ta tôi đă biết từ lâu với tất cả ḷng ng ưỡng
mộ thành kính.
Buồn b ă,
tôi chui vào một quán cà phê và đọc lại câu chuyện của vị đại tá nổi
tiếng kia. Chuyện sâu kín và đau khổ của cả một đời người chỉ vỏn vẹn
ít trang giấy viết tay với nét chữ run run. Tôi nh́n lên tờ lịch. Bây
giờ là trung tuần tháng Tư. Thế là lần hẹn vào đầu tháng Năm năm nay
với người t́nh già của vị đại tá đă vĩnh viễn chôn sâu trong ḷng đất
lạnh.
Trong ḍng suy tưởng vu vơ, bên tai tôi mơ hồ nghe
tiếng chuông ngân như tiếng gọi của linh hồn ai đó đang trôi trên
những ḍng sông miền châu thổ để t́m về một h́nh bóng xa x ưa.
Có một tốp người bước vào
quán. Họ đang ồn ào tranh c ăi
với nhau về sự mất cân bằng của cán cân thương
mại giữa Mỹ và Nhật.
1996
(trích trong tập truyện
"Tiếng chuông trôi trên sông" của Vũ Hồng - Tặng thưởng Văn học của
Hội nhà văn Việt Nam năm 1999)
|